Bản án về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa số 05/2024/KDTM-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH

BẢN ÁN 05/2024/KDTM-ST NGÀY 24/08/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA

Ngày 24 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã V xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 25/2024/TLST-KDTM ngày 26 tháng 6 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 08/2024/QĐXXST-KDTM ngày 31 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty TNHH L; Địa chỉ trụ sở: Số 147 Nguyễn Đăng Đạo, phường Đ, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phạm Tuấn A, sinh năm 1991; Địa chỉ: Số X Nguyễn Văn Cừ, phường V, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.

2. Bị đơn: Công ty TNHH D; Địa chỉ trụ sở: Lô CN5B-1, Khu công nghiệp V 3, phường Việt Hùng, thị xã V, tỉnh Bắc Ninh.

Người đại diện theo pháp luật của bị đơn: Ông Lê Đức T - Giám đốc Công ty TNHH D; Địa chỉ: thôn Bất Lự, xã H, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh.

Vắng mặt.                                     

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Đại diện nguyên đơn là ông Phạm Tuấn A trình bày:

Ngày 01 tháng 5 năm 2022, Công ty TNHH L và Công ty TNHH D ký kết Hợp đồng mua bán số: 0105/2022/LS-DSK về việc mua bán hàng hóa về sơn, dung môi pha sơn, chất đóng rắn các loại thể hiện trên từng đơn đặt hàng, và theo sự thỏa thuận giữa hai bên theo yêu cầu tại từng thời điểm của Công ty D. Căn cứ vào Hợp đồng mua bán, trong thời gian từ tháng 5 đến hết tháng 7 năm 2022, Công ty L đã giao hàng cho Công ty D và phát hành 3 hóa đơn GTGT cho công ty D với tổng số tiền phải trả là 7.634.401.500 đồng. Theo quy định trong Hợp đồng mua bán thì Công ty D có trách nhiệm thanh toán trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày Công ty L xuất hóa đơn. Ngày 16/08/2022 do kinh tế gặp khó khăn, Công ty D đề nghị Công ty L giảm giá hàng hóa đã mua, và được Công ty LS Tech đồng ý giảm giá 20% giá trị hàng hóa, hai bên đã lập biên bản thỏa thuận. Số tiền còn lại sau khi đã giảm giá mà Công ty D cho Công ty L là 6.107.521.200 đồng. Công ty D cam kết thanh toán hết công nợ vào ngày 30/11/2022. Tuy nhiên Công ty D không thực hiện đúng cam kết, chậm thanh toán nhiều lần. Đến nay, Công ty D vẫn còn nợ Công ty L tổng số tiền hàng là: 2.775.000.000 đồng (Hai tỷ bẩy trăm bẩy mươi lăm triệu đồng). Công ty L đã nhiều lần liên hệ yêu cầu Công ty D thanh toán số tiền nêu trên, nhưng Công ty D không trả.

Nay Công ty L yêu cầu Công ty D phải thanh toán cho Công ty L toàn bộ số tiền hàng còn nợ là: 2.775.000.000 đồng (Hai tỷ bẩy trăm bẩy mươi lăm triệu đồng).

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho Công ty TNHH D, tuy nhiên đến nay phía bị đơn không đến Tòa án làm việc và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã V phát biểu ý kiến:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã tuân thủ đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không tuân thủ nghĩa vụ tham gia tố tụng tại Tòa án. Về quan điểm giải quyết vụ án, đề nghị áp dụng Điều 398, 401, 410, 430, 431, 440 Bộ luật Dân sự; Điều 30, 35, 39, 147, 186, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công ty TNHH D có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH L số tiền hàng còn nợ là 2.775.000.000 đồng.

- Về án phí: Công ty TNHH D có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Công ty TNHH L khởi kiện Công ty TNHH D có trụ sở tại Lô CN5B-1, Khu công nghiệp V 3, phường Việt Hùng, thị xã V, tỉnh Bắc Ninh, yêu cầu giải quyết tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND thị xã V.

Công ty TNHH D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

[2] Ngày 01 tháng 5 năm 2022, Công ty TNHH L và Công ty TNHH D ký kết Hợp đồng mua bán số: 0105/2022/LS-DSK về việc mua bán hàng hóa là sơn, dung môi pha sơn, chất đóng rắn các loại. Hợp đồng này có nội dung và hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự nên có hiệu lực pháp luật. Trong thời gian từ tháng 5 đến hết tháng 7 năm 2022, Công ty L đã giao hàng và phát hành 03 hóa đơn GTGT cho công ty D với tổng số tiền phải trả là 7.634.401.500 đồng. Theo quy định trong Hợp đồng mua bán thì Công ty D có trách nhiệm thanh toán tiền trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày Công ty L xuất hóa đơn. Tuy nhiên, đến nay Công ty D vẫn còn nợ Công ty L tổng số tiền hàng là 2.775.000.000 đồng. Do đó, yêu cầu khởi kiện của Công ty L có căn cứ nên được chấp nhận.

[3] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên Công ty TNHH D phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 398, 401, 410, 430, 431, 440 Bộ luật Dân sự; Điều 30, 35, 39, 147, 186, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

1. Công ty TNHH D có nghĩa vụ trả cho Công ty TNHH L số tiền hàng còn nợ là 2.775.000.000 đồng (hai tỷ bảy trăm bảy mươi lăm triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

2. Về án phí: Công ty TNHH D phải chịu 87.500.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trả lại Công ty TNHH L 43.750.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0002066 ngày 26/6/2024 của Chi cục THADS thị xã V.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

99
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa số 05/2024/KDTM-ST

Số hiệu:05/2024/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Quế Võ - Bắc Ninh
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành: 24/08/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: [email protected]
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;