Bản án về tranh chấp hợp đồng dịch vụ vận chuyển số 247/2024/KDTM-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 247/2024/KDTM-ST NGÀY 18/01/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG DỊCH VỤ VẬN CHUYỂN

Trong các ngày 09 và 18 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 63/2023/TLST ngày 06 tháng 3 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng dịch vụ vận chuyển” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 7533/2023/QĐXXST-KDTM ngày 22 tháng 11 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 7753/2023/QĐXXST-KDTM ngày 13 tháng 12 năm 2023 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 136/2024/QĐST-KDTM ngày 09 tháng 01 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q; Trụ sở: B Bà T, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội;

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị Mỹ L (theo giấy ủy quyền số 233/2023/UQ-NCB ngày 22/9/2023) (có mặt) Địa chỉ liên lạc: A N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Công ty TNHH T1; Địa chỉ: B N, phường A, Thành phố T.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Duy T (vắng mặt) Địa chỉ: Thôn V, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 08 tháng 02 năm 2023, Đơn xin thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện để ngày 21/9/2023, các bản tự khai và trong quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP Q, người đại diện theo ủy quyền là bà Nguyễn Thị Mỹ L trình bày:

Ngày 04/01/2022, Ngân hàng TMCP Q (gọi tắt là N) và Công ty TNHH T1 (gọi tắt là Công ty T1) có ký kết Hợp đồng điều tàu số 0401/2022/HĐĐT-HT-N và Phụ lục Hợp đồng (v/v sửa đổi bổ sung hợp đồng điều tàu số 0401/2022/HĐĐTHT-NCB ngày 04/01/2022) ngày 07/01/2022, với nội dung công việc theo hợp đồng như sau: Công ty T1 đồng ý ký kết hợp đồng để thực hiện việc dẫn tàu VIETTIN LUCKY từ YANGON, MYANMA về cảng H, Việt Nam theo yêu cầu của N. Theo đó, Công ty T1 có trách nhiệm thay mặt N nhận bàn giao tàu từ phía chính quyền Myanmar; sửa chữa, thay thế trang thiết bị để tàu đủ điều kiện hoạt động và di chuyển về Việt Nam; thay mặt NCB làm việc với chính quyền sở tại để nhận bàn giao tài sản và xin cấp các giấy phép, sự cho phép cần thiết cho việc rời khỏi M; thực hiện thủ tục đăng kiểm để tàu được phép di chuyển 01 chuyến về Việt Nam và mua bảo hiểm cho tàu và thuyền viên; sắp xếp thuê thủy thủ, nhân viên để đưa tàu từ Yangon, Myanmar về Hải Phòng, Việt Nam và mua bảo hiểm cho tàu và thuyền viên.

Quá trình thực hiện Hợp đồng, ngày 11/01/2022, N đã chuyển khoản thanh toán đợt 1 cho Công ty T1 số tiền 1.500.000.000 đồng. Đồng thời, N đã làm việc với Cảng Y về việc NCB thuê Công ty T1 dẫn tàu Vietin Lucky từ Y, Myanmar về Hải Phòng, Việt Nam. Ngày 14/01/2022, N đã thanh toán đợt 1 các chi phí phát sinh cho Cảng vụ và các bên liên quan tại Myanmar số tiền là 312.092,33 USD (tương đương 7.121.946.971 đồng) để di chuyển tàu về Việt Nam. Ngày 26/01/2022, Công ty T1 có Công văn số 26.01/2022/HTT về việc đã tiếp cận được tàu, cũng như đã hoàn thiện hết các thủ tục để có thể đưa tàu về VN và đề nghị Ngân hàng thực hiện thanh toán cho Cảng vụ Myanmar các chi phí còn lại để nhận bàn giao tàu và di chuyển tàu về Việt Nam. Trên cơ sở đó, ngày 27/01/2022, N đã thực hiện thanh toán xong các chi phí còn lại cho phía Myanmar số tiền là 312.092,34 USD (tương đương 7.100.100.735 đồng.

Tuy nhiên, sau khi N đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ thanh toán chi phí phát sinh cho Cảng vụ và các bên liên quan tại Myanmar, quá thời hạn 40 ngày kể từ ngày N tạm ứng chi phí vận chuyển cho Công ty T1 (ngày 11/01/2022), Công ty T1 vẫn không thực hiện việc đưa tàu Viettin Lucky về cảng H, Việt Nam theo như thỏa thuận của các bên. Việc chậm trễ bàn giao Tàu của Công ty T1 đã ảnh hưởng đến kế hoạch xử lý con tàu và làm phát sinh thiệt hại cho N.

Bên cạnh đó, trong thời gian này, Cảng Y vẫn tính các chi phí đối với con tàu Vietin Lucky khi neo đậu tại cảng Y, tạm tính đến ngày 07/10/2022 là 282.661 USD, tương ứng với 6.751.357.985 đồng.

Ngày 01/10/2022, N đã gửi công văn số 1635/ 2022/CV-NCB cho Công ty T1 về việc đôn đốc đưa tàu về bàn giao cho N theo hợp đồng đã ký. Tuy nhiên, Công ty T1 vẫn không thực hiện đúng. Như vậy, Công ty T1 đã vi phạm các thỏa thuận tại Hợp đồng điều tàu số 0401/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04 tháng 01 năm 2022 và Thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng điều tàu ngày 07/01/2022.

Mặt khác, mục đích của việc điều tàu này nhằm thực hiện cho Hợp đồng mua bán tàu biển số 1312/2021/HĐMB ngày 13/12/2021 giữa N và ông Vũ Minh C với nội dung NCB bán cho ông Vũ Minh C tài sản là tàu VIETTIN LUCKY, số IMO XVAN/9147916, loại tàu chở dầu, năm đóng 1996 tại Hàn Quốc, trọng tải toàn phần là 6693 MT, tổng dung tích 4573GT. Sau khi ký kết Hợp đồng, ông Vũ Minh C đã chuyển số tiền 16.000.000.000 đồng thanh toán đợt 1 cho N.

Tuy nhiên, do Công ty T1 không thực hiện đúng thời hạn bàn giao tàu cho N tại Điều 1 Hợp đồng điều tàu số 0401/2022/HĐĐT-HT-N dẫn đến N vi phạm thời gian bàn giao tàu cho ông C.

Do đó, ngày 08/10/2022 và ngày 14/11/2022, ông Vũ Minh C đã có các văn bản đề nghị N phải trả lại ông C số tiền 16 tỷ đồng mà ông đã thanh toán đợt 1 theo Hợp đồng mua bán tàu và tiền lãi phát sinh (lãi suất tiền gửi hiện hành cao nhất của N kỳ hạn 12 tháng) tại thời điểm giao kết Hợp đồng.

Ngày 05/12/2022, ông Vũ Minh C và N ký kết biên bản thỏa thuận về việc chấm dứt, hủy bỏ Hợp đồng mua bán tàu biển số 1312/2021/HĐMB ngày 13/12/2021 giữa N và ông Vũ Minh C. Chậm nhất ngày 07/01/2023, N hoàn trả cho ông C số tiền 16.000.000.000 đồng và lãi suất theo mức lãi suất tiền gửi 12 tháng cao nhất của N tại thời điểm tháng 12/2021 là 6,45%/năm. Số tiền lãi được tính từ ngày 28/01/2022 cho đến ngày N thực tế thanh toán.

Ngày 04/01/2023, N đã chuyển trả ông Vũ Minh C số tiền 16.964.142.466 đồng (trong đó: 16 tỷ đồng là hoàn trả tiền ông C thanh toán đợt 1 theo Hợp đồng mua bán tàu biển số 1312/2021/HĐMB ngày 13/12/2021 và 964.142.466 đồng tiền bồi thường thiệt hại (tính từ ngày 28/01/2022 đến ngày 04/01/2023 theo mức lãi suất gửi tiết kiệm kỳ hạn 12 tháng là 6.45%/năm)). Ngày 07/01/2023, N và ông Vũ Minh C đã ký kết Biên bản thanh lý Hợp đồng mua bán tàu biển số 1312/2021/HĐMB ngày 13/12/2021.

Do đó, Ngày 08/2/2023, Ngân hàng TMCP Q khởi kiện ra Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức để yêu cầu Công ty TNHH T1 như sau:

- Chấm dứt Hợp đồng điều tàu số 0401/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022 và Phụ lục Hợp đồng (v/v sửa đổi bổ sung hợp đồng điều tàu số 0401/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022) ngày 07/01/2022.

- Buộc Công ty T1 phải hoàn trả cho NCB số tiền mà N đã tạm ứng là 1.500.000.000 đồng theo Hợp đồng điều tàu số 0401/2022/HĐĐT-HT-N.

- Buộc Công ty T1 phải chịu phạt vi phạm hợp đồng là 27.500.000.000 đồng (tạm tính từ ngày 21/2/2022 đến ngày 23/11/2022).

- Buộc Công ty T1 phải bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho N số tiền 877.200.000 đồng phát sinh do việc Công ty T1 chậm giao tàu.

Ngày 21/9/2023, Ngân hàng TMCP Q có đơn xin thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện, với nội dung yêu cầu khởi kiện như sau:

- Chấm dứt Hợp đồng điều tàu số 0401/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022 và Phụ lục Hợp đồng (v/v sửa đổi bổ sung hợp đồng điều tàu số 0401/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022) ngày 07/01/2022.

- Buộc Công ty T1 phải hoàn trả cho NCB số tiền mà N đã tạm ứng là 1.500.000.000 đồng theo Hợp đồng điều tàu số 0401/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022 - Buộc Công ty T1 phải chịu phạt vi phạm hợp đồng là 8% trên giá trị hợp đồng điều tàu số 0401/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022 là 8% x 4.500.000.000 đồng = 360.000.000 đồng.

- Công ty T1 phải bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho N số tiền 964.142.466 đồng phát sinh do việc Công ty T1 chậm giao tàu.

Người đại diện hợp pháp của Công ty TNHH T1 mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng vắng mặt cũng như không có ý kiến, bản tự khai đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa:

Đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện với yêu cầu cụ thể như sau:

- Chấm dứt Hợp đồng điều tàu số 0401/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022 và Phụ lục Hợp đồng (v/v sửa đổi bổ sung hợp đồng điều tàu số 0401/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022) ngày 07/01/2022.

- Buộc Công ty T1 phải hoàn trả cho NCB số tiền mà N đã tạm ứng là 1.500.000.000 đồng theo Hợp đồng điều tàu số 0401/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022.

- Công ty T1 phải chịu phạt vi phạm hợp đồng là 8% trên giá trị hợp đồng điều tàu số 0401/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022 là 8% x 4.500.000.000 đồng = 360.000.000 đồng.

- Công ty T1 phải bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho N số tiền 964.142.466 đồng phát sinh do việc Công ty T1 chậm giao tàu.

Đại diện hợp pháp của bị đơn - Công ty TNHH T1 mặc dù đã được Tòa án tống đạt xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, thời hạn xét xử đã quá so với thời gian quy định, kiến nghị rút kinh nghiệm.

Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Hợp đồng điều tàu số 0401/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022 và Phụ lục Hợp đồng (v/v sửa đổi bổ sung hợp đồng điều tàu số 0401/2022/HĐĐT-HTNCB ngày 04/01/2022) ngày 07/01/2022 với nội dung Công ty T1 đồng ý ký kết hợp đồng để thực hiện việc dẫn tàu VIETTIN LUCKY từ YANGON, MYANMA về cảng H, Việt Nam. Xét, hợp đồng trên là tranh chấp về dịch vụ điều tàu và tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận, theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Tranh chấp phát sinh từ quan hệ Hợp đồng điều tàu số 0401/2022/HĐĐT HT-N và Phụ lục Hợp đồng (v/v sửa đổi bổ sung hợp đồng điều tàu số 0401/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022) ngày 07/01/2022, bị đơn có trụ sở ở thành phố T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng:

- Theo Công văn số 3439/ĐKKD-T6 ngày 28/4/2023 của Phòng đăng ký kinh doanh Sở kế hoạch đầu tư Thành phố H thì Bị đơn - Công ty TNHH T1 (mã số doanh nghiệp C1) là doanh nghiệp có địa chỉ trụ sở hoạt động chính tại B N, phường A, thành phố T, có địa chỉ email: [email protected] người đại diện theo pháp luật - ông Nguyễn Duy T có địa chỉ Thôn V, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Do đó, Tòa án thực hiện tống đạt các văn bản tố tụng cho người đại diện theo pháp luật và Công ty theo quy định.

- Ngày 14/4/2023, Công an phường A, thành phố T trả lời công văn xác minh số 1757/TATĐ ngày 05/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức như sau: “Hiện tại 28 Nguyễn Quý Đ tổ E, Khu phố E, phường A, thành phố T không treo biển hiệu hoạt động Công ty TNHH T1” và kết quả trả lời xác minh của Công an phường Đ, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa như sau: “ Công dân Nguyễn Duy T SN 1983 CCCD 03808300xxxx không có HKTT tại phố V - phường Đ - TP T và cũng không có cư trú tại địa bàn phố V, phường Đ, TP T.” Do đó, việc niêm yết công khai không đảm bảo cho bị đơn nhận được thông tin về việc tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án. Nên căn cứ Điều 180 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành làm thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng.

- Người đại diện hợp pháp của Bị đơn Công ty TNHH T1 vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án thực hiện thủ tục tống đạt bằng hình thức thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng về nội dung vụ án, thông báo triệu tập bị đơn trong ba số liên tiếp trên B, trang Thông tin điện tử của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và phát thanh trong ba ngày liên tiếp trên Đ1. Do đó, Tòa án giải quyết vắng mặt bị đơn là đúng quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về nội dung: Căn cứ bản sao Hợp đồng Điều tàu số 04/01/2022/HĐĐT HT-NCB ngày 04/01/2022 và Vi bằng số 869/2023/VB-TPLTL ngày 08/5/2023 ghi nhận Phụ lục Hợp đồng (v/v sửa đổi bổ sung hợp đồng điều tàu số 04/01/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022) ngày 07/01/2022 được hai bên thỏa thuận qua email điện tử thì có cơ sở xác định giữa nguyên đơn và bị đơn có ký Hợp đồng điều tàu số 04/01/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022. Ngoài ra, Phụ lục Hợp đồng ngày 07/01/2022 được NCB gửi qua email của Công ty T1 là [email protected] đồng thời ngày 07/01/2022 Công ty T1 dùng địa chỉ email [email protected] trả lời lại cho N về việc “Công ty T1 xác nhận điều kiện phụ lục và gửi bản gốc sớm nhất đến quý công ty”. Do đó, Hội đồng xét xử xác nhận nguyên đơn và bị đơn có ký kết Hợp đồng điều tàu số 04/01/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022 và Phụ lục Hợp đồng (v/v sửa đổi bổ sung hợp đồng điều tàu số 04/01/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022) ngày 07/01/2022.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[4.1] Về yêu cầu Chấm dứt Hợp đồng điều tàu số 04/01/2022/HĐĐT-HT NCB ngày 04/01/2022 và Phụ lục Hợp đồng (v/v sửa đổi bổ sung hợp đồng điều tàu số 04/01/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022) ngày 07/01/2022:

Hội đồng xét xử xét thấy: Ngày 04/01/2022 và ngày 07/01/2022 N và Công ty T1 đã ký kết Hợp đồng điều tàu số 04/01/2022/HĐĐT-HT-NCB và Phụ lục Hợp đồng. Căn cứ vào Điều 2.4 của Hợp đồng, N đã thanh toán đợt 1 bằng hình thức chuyển khoản 1.500.000.000 đồng cho Công ty T1 và Điều 1 của Phụ lục hợp đồng thì “Trong vòng 40 ngày kể từ ngày nhận được tiền thanh toán đợt 1, Công ty T1 có trách nhiệm bàn giao tàu cho N tại Hải Phòng”. Tuy nhiên, quá thời hạn theo Phụ lục Hợp đồng Công ty T1 vẫn chưa giao tàu về Hải Phòng, Việt Nam là bị đơn đã chưa hoàn thành nghĩa vụ cho nguyên đơn là đã vi phạm thỏa thuận trong Hợp đồng và Phụ lục hợp đồng. Nên NCB yêu cầu chấm dứt hợp đồng điều tàu số 04/01/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022 và Phụ lục Hợp đồng (v/v sửa đổi bổ sung hợp đồng điều tàu số 04/01/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022) ngày 07/01/2022 là có căn cứ để chấp nhận.

[4.2] Xét yêu cầu buộc Công ty T1 phải hoàn trả cho NCB số tiền mà N đã tạm ứng là 1.500.000.000 đồng.

Như đã phân tích ở [4.1], Hội đồng xét xử xét thấy do yêu cầu chấm dứt hợp đồng điều tàu số 04/01/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022 và Phụ lục Hợp đồng (v/v sửa đổi bổ sung hợp đồng điều tàu số 04/01/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022) ngày 07/01/2022 được chấp nhận nên yêu cầu buộc Công ty T1 phải hoàn trả cho NCB số tiền mà N đã tạm ứng là 1.500.000.000 đồng là có cơ sở nên được chấp nhận.

[4.3] Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc Công ty T1 phải chịu phạt vi phạm hợp đồng là 8% trên giá trị hợp đồng điều tàu số 04/01/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022 là 8% x 4.500.000.000 đồng = 360.000.000 đồng.

Căn cứ Điều 1.3 của Phụ lục Hợp đồng (v/v sửa đổi bổ sung hợp đồng điều tàu số 04/01/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022) ngày 07/01/2022 có quy định: “ Trường hợp thời gian thực hiện dịch vụ bị chậm, trừ trường hợp bất khả kháng, Bên B (Công ty T1) phải thông báo cho Bên A (N) chậm nhất 03 ngày trước khi đến hạn và chỉ được điều chỉnh khi Bên A đồng ý. Trường hợp chậm tiến độ mà không được Bên A đồng ý thì Bên B có trách nhiệm chịu phạt số tiền là 100.000.000 đồng/ngày”. Tuy nhiên, ngày 21/9/2023, N có đơn xin sửa đổi nội dung yêu cầu khởi kiện chỉ yêu cầu Công ty T1 phải chịu phạt vi phạm hợp đồng là 8% trên giá trị hợp đồng điều tàu số 04/01/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022 là 8% x 4.500.000.000 đồng = 360.000.000 đồng là phù hợp theo Điều 301 Luật Thương mại 2005 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4.4] Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc Công ty T1 phải bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho N số tiền 964.142.466 đồng phát sinh do việc Công ty T1 chậm giao tàu.

Tài liệu chứng cứ gồm có: Hợp đồng mua bán tàu biển số 1312/2021/HĐMB ngày 13/12/2021 giữa N và ông Vũ Minh C, Biên bản thỏa thuận ngày 05/12/2022 v/v chấm dứt và hủy bỏ hợp đồng mua bán tàu biển số 1312/2021/HĐMB ngày 13/12/2021; Biên bản làm việc ngày 05/12/2022; Lệnh chuyển có ngày 04/01/2023 với nội dung “NCB chuyển trả cho ông Vũ Minh C theo HD 1312.21 và BBTT 05.12.22”.

Hội đồng xét xử xét thấy: Ngày 13/12/2021, N và ông Vũ Minh C có ký kết Hợp đồng mua bán tàu biển số 1312/2021/HĐMB với nội dung NCB bán cho ông Vũ Minh C tài sản là tàu VIETTIN LUCKY. Giá trị mua bán tài sản là 24.750.000.000 đồng. Sau khi ký kết Hợp đồng, ông Vũ Minh C đã chuyển số tiền 16.000.000.000 đồng thanh toán đợt 1 cho N. Để thực hiện hợp đồng mua bán tàu biển trên thì sau đó, N và Công ty T1 đã ký kết hợp đồng điều tàu 04/01/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022 với mục đích Công ty T1 có trách nhiệm bàn giao tàu VIETTIN LUCKY cho N tại Hải Phòng. (1) Tuy nhiên, Công ty T1 đã vi phạm hợp đồng do không thực hiện đúng thời gian theo thỏa thuận trong Hợp đồng điều tàu dẫn đến (2) N cũng không thể thực hiện việc bàn giao tàu VIETTIN LUCKY cho ông C theo đúng như Hợp đồng mua bán tàu biển số 1312/2021/HĐMB được ký ngày 13/12/2021. Do vi phạm hợp đồng với ông C nên ngày 05/12/2022 N và ông C đã ký biên bản thỏa thuận với nội dung: “ Hai bên đồng ý chấm dứt và hủy bỏ Hợp đồng mua bán tàu biển số 1312/2021/HĐMB được ký ngày 13/12/2021, chậm nhất ngày 07/01/2023 N có nghĩa vụ hoàn trả cho ông C số tiền 16.000.000.000 đồng và lãi suất theo mức lãi suất tiền gửi 12 tháng cao nhất của N tại thời điểm tháng 12/2021 là 6.45%/năm”. Số tiền mà N đã chuyển trả cho ông C là 16.964.142.466 đồng theo lệnh chuyển có ngày 04/01/2023. (3) Như vậy, Công ty T1 không thực hiện đúng nghĩa vụ trong hợp đồng là hành vi vi phạm hợp đồng, là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại cho N đã phải hoàn trả cho ông C toàn bộ số tiền 16.964.142.466 đồng (tiền gốc 16.000.000.000 đồng và tiền lãi 6.45%/năm: 964.142.466 đồng). Như đã phân tích (1), (2) và (3) thì có căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại giữa H và N.

Đồng thời, tại Điều 4.7 của Hợp đồng điều tàu 0401/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022 quy định: “Bồi thường cho bên A (N) những mất mát, tổn thất xảy ra trong quá trình thực hiện dịch vụ...” và Khoản 2 Điều 307 Luật Thương mại 2005 quy định: “ Trường hợp các bên có thỏa thuận phạt vi phạm thì bên bị vi phạm có quyền áp dụng cả chế tài phạt vi phạm và buộc bồi thường thiệt hại, ...”. Yêu cầu bị đơn Công ty T1 phải chịu bồi thường thiệt hại cho N số tiền 964.142.466 đồng là hợp lý nên được chấp nhận.

[5] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận. Về thời hạn giải quyết vụ án bị kéo dài do trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử ghi nhận và rút kinh nghiệm.

[6] Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm g khoản 1 Điều 40; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 244; khoản 1, khoản 2 Điều 269; Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015

Căn cứ Điều 74; Điều 303, Điều 307 và Điều 316 Luật thương mại năm 2005

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP Q.

1. Tuyên bố Chấm dứt Hợp đồng điều tàu số 0401/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022 và Phụ lục Hợp đồng (v/v sửa đổi bổ sung hợp đồng điều tàu số 0401/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022) ngày 07/01/2022 giữa Ngân hàng TMCP Q và Công ty TNHH T1.

2. Buộc Công ty TNHH T1 phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Q1 tiền đã tạm ứng là 1.500.000.000 (một tỷ năm trăm triệu) đồng theo Hợp đồng điều tàu số 0401/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022 và thỏa thuận sửa đổi, bổ sung Hợp đồng điều tàu ngày 07/01/2022.

Buộc Công ty TNHH T1 phải chịu phạt vi phạm theo Hợp đồng điều tàu số 0401/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022 và Phụ lục Hợp đồng (v/v sửa đổi bổ sung hợp đồng điều tàu số 0401/2022/HĐĐT-HT-NCB ngày 04/01/2022) ngày 07/01/2022 là 360.000.000 (ba trăm sáu mươi triệu) đồng.

4. Buộc Công ty TNHH T1 phải bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cho Ngân hàng TMCP Q1 tiền 964.142.466 (chín trăm sáu mươi bốn triệu một trăm bốn mươi hai ngàn bốn trăm sáu mươi sáu) đồng.

Thi hành một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Việc thi hành án được thực hiện tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

5. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:

Công ty TNHH T1 phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm số tiền 88.482.849 (tám mươi tám triệu bốn trăm tám mươi hai ngàn tám trăm bốn mươi chín) đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Q1 tiền tạm ứng án phí đã nộp 68.938.600 (sáu mươi tám triệu chín trăm ba mươi tám ngàn sáu trăm) đồng theo biên lai thu số AA/2022/0008324 ngày 01/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2014)

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

45
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng dịch vụ vận chuyển số 247/2024/KDTM-ST

Số hiệu:247/2024/KDTM-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân TP. Thủ Đức - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Kinh tế
Ngày ban hành: 18/01/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: [email protected]
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;