TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bản án số 47/2024/KDTM-ST ngày 25/07/2024 về tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ
Ngày 25 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án KDTM thụ lý số: 08/2023/TLST-KDTM ngày 23.02.2023 về việc “tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 234/2023/QĐXX-ST ngày 11.8.2023, giữa:
Nguyên đơn: Công ty Cổ phần C2 Địa chỉ: B P, thành phố Q, tỉnh Bình Định Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Hồng Q - Tổng giám đốc Đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Gia H1 - nhân viên pháp chế Ông Lê Văn N - phó phòng kế toán (Văn bản ủy quyền số 1715/GUQ-QNP ngày 08.12.2022)
Bị đơn : Công ty TNHH N1 Địa chỉ : thôn I, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk Đại diện theo pháp luật: Ông Đỗ Duy Ả - giám đốc
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thị Tường M Địa chỉ : thôn I, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Nguyên đơn có mặt, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện để ngày 28.11.2022 và các lời khai tiếp theo tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền phía nguyên đơn Ông Võ Gia H1 trình bày:
Công ty Cổ phần C2 (gọi tắt Cảng Q) và Doanh nghiệp tư nhân Q1 - hiện nay Công ty TNHH N1 (gọi tắt C3) có ký HĐKT số 95/BSQT-2A/2016/01 ngày 02.01.2016 về việc cung ứng dịch vụ bốc xếp hàng thức ăn gia súc bao. Trong quá trình thực hiện HĐKT 2 bên có ký các phụ lục HĐ số 95/BSQT-2A/2016/01/PL1 ngày 01.8.2016, HĐ số 95/BSQT- 016/01/PL2 ngày 01.9.2016, HĐ số 95/BSQT- 2A/2016/01/PL3 ngày 27.9.2016.
Quá trình thực hiện HĐKT C2 đã hoàn thành dịch vụ và đã xuất 12 hóa đơn GTGT; căn cứ biên bản đối chiếu công nợ ngày 10.7.2017 được 2 bên thống nhất số tiền còn nợ 75.059.515đ; Cảng Q đã đòi nợ nhiều lần vào các ngày 26.9.2017, 30.11.2018 và ngày 07.4.2021 nhưng Doanh nghiệp tư nhân Q1 (hiện nay Công ty N1) không thanh toán.
Nay Cảng Q yêu cầu C3 trả số tiền nợ 75.059.515đ, không yêu cầu gì khác * Bị đơn Ông Đỗ Duy Ả - đại diện theo pháp luật C3 không đến Tòa làm việc, Tòa đã tiến hành lấy lời khai không được, xác minh tại địa phương, tống đạt hợp lệ theo đúng quy định của pháp luật.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Nguyễn Thị Tường M không đến Tòa làm việc, Tòa đã tiến hành lấy lời khai không được, xác minh tại địa phương, tống đạt hợp lệ theo đúng quy định của pháp luật.
Ý kiến đại diện VKSNDTPQN tham dự phiên Tòa phát biểu:
Ý kiến về việc tuân thủ theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, HĐXX, thư ký phiên Tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án: đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự quy định.
Ý kiến về nội dung vụ án: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Cảng Q về việc yêu cầu C3 trả số tiền 75.059.515đ. Án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, H2 đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật:
Căn cứ vào đơn khởi kiện, lời trình bày của các đương sự, đối chiếu với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án; tại thời điểm thụ lý căn cứ Điều 30 BLTTDS 2015; chương III Luật thương mại, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp “Hợp đồng cung ứng dịch vụ” [2] Về tố tụng:
Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn đã tống đạt thông báo về việc thụ lý vụ án, nhiều lần gửi giấy báo triệu tập, lấy lời khai không được của C3, chị M; xác minh tại địa phương và thông báo về phiên hòa giải, phiên xét xử cho C3, chị M nhưng C3, chị M đều không đến Tòa làm việc. Đây là trường hợp bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cố tình lẩn tránh gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 BLTTDS Tòa án vẫn đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
[3] Về tư cách đương sự:
Giữa Cảng Q và DNTN nông sản Q1 mà đại diện bà Nguyễn Thị Tường M có ký hợp đồng kinh tế số 95/NSQT-2A/2016/01 ngày 02.01.2016 về việc cung cấp dịch vụ bốc xếp hàng thức ăn gia súc bao và các phụ lục HĐ nhưng trên đơn khởi kiện Cảng Q ghi bị đơn: Công ty TNHH N1 ( trước đây DNTN nông sản Q1). Theo Công văn số 1301/SKHĐT-ĐKKD ngày 29.5.2023 của Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Đ: Công ty TNHH N1 là doanh nghiệp được chuyển đổi từ DNTN nông sản Q1 nên Công ty TNHH N1 với tư cách là bị đơn, chị Nguyễn Thị Tường M với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
- Về nội dung:
[4] Đối yêu cầu của nguyên đơn:
Cảng Q và Doanh nghiệp tư nhân Q1 (hiện nay C3) có ký HĐKT số 95/BSQT-2A/2016/01 ngày 02.01.2016 về việc cung ứng dịch vụ bốc xếp hàng thức ăn gia súc bao. Trong quá trình thực hiện HĐKT 2 bên có ký các phụ lục HĐ số 95/BSQT-2A/2016/01/PL1 ngày 01.8.2016, HĐ số 95/BSQT- 016/01/PL2 ngày 01.9.2016, HĐ số 95/BSQT-2A/2016/01/PL3 ngày 27.9.2016. Căn cứ biên bản đối chiếu công nợ ngày 10.7.2017 được 2 bên thống nhất số tiền còn nợ 75.059.515đ; nay Cảng Q yêu cầu C3 trả số tiền 75.059.515đ. còn C3 không đến Tòa làm việc trong quá trình giải quyết vụ án.
Tòa xét:
C3 (trước đây DNTN nông sản Q1) thực tế có ký HĐKT với Cảng Q về việc cung ứng dịch vụ bốc xếp hàng thức ăn gia súc bao. Cảng Q đã hoàn thành dịch vụ và đã xuất 12 hóa đơn GTGT; giữa 2 bên đã có đối chiếu công nợ ngày 10.7.2017 được 2 bên thống nhất số tiền còn nợ 75.059.515đ nên yêu cầu của nguyên đơn đòi nợ là có căn cứ và đúng pháp luật; đây là cơ sở để HĐXX xem xét.
Xét thấy, thời gian ký kết hợp đồng ngày 02.01.2016, thời gian ký các phụ lục HĐ ngày 01.8.2016, ngày 01.9.2016, ngày 27.9.2016 mà chủ thể là Doanh nghiệp tư nhân Q1 cụ thể chị M là người đại diện. Tại biên bản đối chiếu công nợ ngày 10.7.2017 cũng chị M ký. Theo tài liệu của Sở kế hoạch đầu tư tỉnh Đ cung cấp Doanh nghiệp tư nhân Q1 chuyển thành Công ty TNHH N1 vào ngày 28.11.2017 tức sau ngày ký biên bản đối chiếu công nợ ngày 10.7.2017; bên cạnh đó khi tiến hành chuyển đổi từ Doanh nghiệp tư nhân sang Công ty TNHH N1 có làm giấy cam kết trách nhiệm cá nhân chị M gửi phòng đăng ký kinh doanh tỉnh Đắk Lắk vào ngày 28.11.2017 thể hiện Tôi xin chịu trách nhiệm cá nhân bằng toàn bộ tài sản của mình đối với tất cả các khoản nợ chưa thanh toán của Doanh nghiệp tư nhân Q1 và thanh toán đầy đủ các khoản nợ khi đến hạn (nếu có phát sinh) và căn cứ điểm c khoản 1 điều 199 Luật doanh nghiệp năm 2014 (tương ứng điểm b khoản 1 điều 205 Luật doanh nghiệp năm 2020) quy định Chủ doanh nghiệp tư nhân cam kết bằng văn bản chịu trách nhiệm cá nhân bằng toàn bộ tài sản của mình đối với tất cả khoản nợ chưa thanh toán và cam kết thanh toán đủ số nợ khi đến hạn; khoản 3 điều 199 Luật doanh nghiệp năm 2014 ( tương ứng khoản 3 điều 205 Luật doanh nghiệp năm 2020) quy định Công ty được chuyển đổi đương nhiên kế thừa quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp tư nhân K từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm cá nhân bằng toàn bộ tài sản của mình đối với tất cả khoản nợ phát sinh trước ngày công ty được chuyển đổi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Ngoài ra, giữa Cảng Q với C3 không có văn bản thoả thuận về khoản nợ trên từ năm 2017 đến ngày khởi kiện. Vì vậy trách nhiệm trả nợ cho Cảng Q là chị M phù hợp theo quy định pháp luật.
Tại phiên Tòa, HĐXX đã giải thích trách nhiệm trả nợ của Doanh nghiệp tư nhân Q1; quá trình chuyển đổi từ Doanh nghiệp tư nhân sang Công ty TNHH N1, khoản nợ trước và sau khi chuyển đổi; quy định pháp luật trong trường hợp chuyển nợ khi chuyển đổi loại hình doanh nghiệp; nhưng đại diện theo ủy quyền của Cảng Q vẫn khăng khăng giữ nguyên yêu cầu chỉ khởi kiện Công ty TNHH N1 dù người đại diện theo pháp luật là ai, không yêu cầu chị M trả nợ vì Doanh nghiệp tư nhân Q1 đã không còn. Nên HĐXX không có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Cảng Q.
- Ý kiến của đại diện VKSNDTPQN tham dự phiên Tòa phát biểu về nội dung vụ án phù hợp theo hướng nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm : Áp dụng khoản 2 điều 26 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Cảng Q phải chịu: 3.753.000đ
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự 2015
Căn cứ Điều 74, Điều 75, khoản 1 Điều 85 Luật thương mại 2005
Căn cứ Điều 199 Luật doanh nghiệp năm 2014
Áp dụng khoản 2 điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 về án phí, lệ phí Tòa án
Tuyên xử :
1. Bác yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ phần C2 vì không phù hợp theo quy định pháp luật.
2. Về án phí KDTM sơ thẩm: Công ty Cổ phần C2 phải chịu: 3.753.000đ nhưng được trừ 3.000.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 000xxxx ngày 22 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn, nên Công ty Cổ phần C2 còn phải nộp 753.000đ .
3. Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên Tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc được tống đạt hợp lệ 4. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
4.1 Kể từ ngày bản án quyết định có hiệu lực (đối với trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
4.2 Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự
Bản án về tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ số 47/2024/KDTM-ST
| Số hiệu: | 47/2024/KDTM-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Qui Nhơn - Bình Định |
| Lĩnh vực: | Kinh tế |
| Ngày ban hành: | 25/07/2024 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về