TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 21/2024/KDTM-ST NGÀY 23/05/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CHO THUÊ THIẾT BỊ XÂY DỰNG
Trong ngày 23 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10 xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 32/2023/TLST-KDTM ngày 25 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng cho thuê thiết bị xây dựng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41/2024/QĐST-KDTM ngày 25/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2024/QĐST-KDTM ngày 23/4/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH V; Địa chỉ trụ sở: MMS T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là: Ông Trần Xuân H, sinh năm 1984. (Theo Giấy ủy quyền ngày 10/5/2023) (có mặt) Địa chỉ: MM8 T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Công ty Cổ phần F (tên cũ là Công ty Cổ phần D); Địa chỉ trụ sở: C P, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của Công ty F là: Ông Mai Xuân P, sinh năm 1984. (Theo Giấy ủy quyền số 09/2023/UQCT ngày 20/6/2023) (vắng mặt) Địa chỉ: C P, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN
*Theo đơn khởi kiện ngày 10/5/2023 và trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Xuân H là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty TNHH V trình bày như sau:
Nguyên đơn và Bị đơn ký kết Hợp đồng cho thuê thiết bị xây dựng số: 14/2020/DINSG/HDCT/VC ngày 05/02/2020; kèm các Phụ lục hợp đồng sau:
+ PL: 01/14/2020/DINSG/HDCT/VC ngày 12/02/2020
+ PL: 02/14/2020/DINSG/HDCT/VC ngày 20/02/2020
+ PL: 03/14/2020/DINSG/HDCT/VC ngày 17/07/2020
+ PL: 04/14/2020/DINSG/HDCT/VC ngày 03/04/2021
+ PL: 05/14/2020/DINSG/HDCT/VC ngày 10/05/2021
+ PL: 06/14/2020/DINSG/HDCT/VC ngày 03/01/2022 Căn cứ nội dung Hợp đồng và các Phụ lục hợp đồng đã được ký kết nêu trên. Nguyên đơn cho bị đơn thuê thiết bị xây dựng để phục vụ cho các công trình sau: Công trình AT , Công trình K (K), Công trình Dự án Công ty TNHH C1 tại Visip II - A Giai đoạn B (C), Công trình Nhà máy B1 (B1).
Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn:
1. Đối với công trình A:
- Căn cứ điểm 5.2.4 khoản 5.2 “Quyền và nghĩa vụ Bên B” Điều V của Hợp đồng, bị đơn vị phạm nghĩa vụ thanh toán tiền lãi phạt do chậm trả là: 4.555.229đ.
- Căn cứ điểm 5.2.6 khoản 5.2 “Quyền và nghĩa vụ Bên B” Điều V của Hợp đồng, bị đơn vị phạm nghĩa vụ bồi thường thiết bị thuê do làm mất là: 103.097.280đ.
Tổng cộng, bị đơn vị phạm nghĩa vụ thanh toán là: 107.652.509đ. 2. Đối với công trình K:
- Căn cứ Điều III “Tính tiền” của Hợp đồng, bị đơn vị phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê là: 258.370.403đ.
- Căn cứ điểm 5.2.4 khoản 5.2 “Quyền và nghĩa vụ Bên B” Điều V của Hợp đồng, bị đơn vị phạm nghĩa vụ thanh toán tiền lãi phạt do chậm trả là: 6.664.422đ.
Tổng cộng, bị đơn vị phạm nghĩa vụ thanh toán là: 265.034.825đ. 3. Đối với công trình Camso:
- Căn cứ Điều III “Tính tiền” của Hợp đồng, bị đơn vị phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê là: 85.039.910đ.
- Căn cứ điểm 5.2.4 khoản 5.2 “Quyền và nghĩa vụ Bên B” Điều V của Hợp đồng, bị đơn vị phạm nghĩa vụ thanh toán tiền lãi phạt do chậm trả là: 2.588.732đ.
Tổng cộng, bị đơn vị phạm nghĩa vụ thanh toán là: 87.628.642đ. 4. Đối với công trình Heineken:
- Căn cứ Điều III “Tính tiền” của Hợp đồng, bị đơn vị phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê là: 31.892.668đ.
- Căn cứ điểm 5.2.4 khoản 5.2 “Quyền và nghĩa vụ Bên B” Điều V của Hợp đồng, bị đơn vị phạm nghĩa vụ thanh toán tiền lãi phạt do chậm trả là: 776.374đ.
Tổng cộng, bị đơn vị phạm nghĩa vụ thanh toán là: 32.669.042đ. Đã rất nhiều lần nguyên đơn thiện chí trao đổi, làm việc; cung cấp đầy đủ hồ sơ, chứng từ nhưng phía bị đơn vẫn không tự nguyện thanh toán, bồi thường số tiền nêu trên cho nguyên đơn. Tất cả hồ sơ, chứng từ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp, nguyên đơn đã nộp cho Tòa án kèm theo đơn khởi kiện.
Căn cứ khoản 6.3 Điều VI “Cam kết chung” của Hợp đồng cho thuê thiết bị xây dựng số: 14/2020/DINSG/HDCT/VC ngày 05/02/2020, nội dung “Các tranh chấp giữa các bên tham gia hợp đồng, nếu không tự giải quyết được thì vụ việc tranh chấp sẽ được đưa ra Tòa án nhân dân nơi có trụ sở chính của Bên A giải quyết”. Nguyên đơn (Bên A) lựa chọn Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh là Tòa án nơi có trụ sở chính của Nguyên đơn để khởi kiện tranh chấp nêu trên.
Căn cứ Bảng kê nợ tiền thuê thiết bị xây dựng của bị đơn do nguyên đơn lập ngày 24/02/2023.
Nay, nguyên đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn V yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn toàn bộ tiền thuê, tiền bồi thường thiết bị do làm mất và tiền lãi phạt do chậm trả tính đến ngày bản án giải quyết tranh chấp của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Tạm tính đến ngày 24/02/2023 là 492.985.018đ (Bốn trăm chín mươi hai triệu, chín trăm tám mươi lăm ngàn, không trăm mười tám đồng).
*Bị đơn Công ty Cổ phần F (tên cũ là Công ty Cổ phần D) có ông Mai Xuân P là người đại diện theo ủy quyền có ý kiến như sau:
Bị đơn xác nhận về việc giữa bị đơn và nguyên đơn có ký kết Hợp đồng cho thuê thiết bị xây dựng số 14/2020/DINSG/HDCT/VC ngày 05/2/2020; kèm các Phụ lục hợp đồng sau:
+ PL: 01/14/2020/DINSG/HDCT/VC ngày 12/02/2020
+ PL: 02/14/2020/DINSG/HDCT/VC ngày 20/02/2020
+ PL: 03/14/2020/DINSG/HDCT/VC ngày 17/07/2020
+ PL: 04/14/2020/DINSG/HDCT/VC ngày 03/04/2021
+ PL: 05/14/2020/DINSG/HDCT/VC ngày 10/05/2021
+ PL: 06/14/2020/DINSG/HDCT/VC ngày 03/01/2022.
Theo đó, nguyên đơn cho bị đơn thuê thiết bị xây dựng để phục vụ cho các công trình sau: Công trình AT , Công trình K (K), Công trình Dự án Công ty TNHH C1 tại Visip II - A Giai đoạn B (C), Công trình Nhà máy B1 (B1).
- Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty V thì bị đơn Công ty F (tên cũ là Công ty D) không đồng ý thanh toán cho nguyên đơn 375.302.981đ (Ba trăm bảy mươi lăm triệu, ba trăm lẻ hai ngàn, chín trăm tám mươi mốt đồng) tiền thuê thiết bị còn nợ, trong đó:
+ Số tiền 258.370.403đ (Hai trăm năm mươi tám triệu, ba trăm bảy mươi ngàn, bốn trăm lẻ ba đồng) là tiền thuê thiết bị của công trình K.
+ Số tiền 85.039.910đ (Tám mươi lăm triệu, không trăm ba mươi chín ngàn, chín trăm mười đồng) là tiền thuê thiết bị của công trình C.
+ Số tiền 31.892.668đ (Ba mươi mốt triệu, tám trăm chín mươi hai ngàn, sáu trăm sáu mươi tám đồng) là tiền thuê thiết bị của công trình H1.
Lý do: Bị đơn chưa chốt được số tiền cụ thể mà bị đơn còn nợ của nguyên đơn.
- Đối với các khoản tiền lãi do chậm trả, tiền bồi thường do làm mất thiết bị thuê (nếu có) của các công trình A, Khánh P1, C và H1 thì bị đơn đề nghị Tòa án cho thêm thời gian để thương lượng và thỏa thuận với nguyên đơn.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Từ khi thụ lý giải quyết vụ án cho đến trước khi nghị án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc Công ty Cổ phần F (tên cũ là Công ty Cổ phần D) phải thanh toán cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn V tiền bồi thường thiết bị xây dựng do làm mất, tiền thuê thiết bị xây dựng với tổng số tiền là 478.400.261đ.
+ Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc Công ty Cổ phần F phải thanh toán tiền lãi phạt do chậm trả trên số tiền 478.400.261đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền:
- Xét, theo Đơn khởi kiện đề ngày 10/5/2023 và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định đây là tranh chấp về kinh doanh thương mại về việc Tranh chấp hợp đồng cho thuê thiết bị xây dựng.
- Xét, tại khoản 6.3 Điều VI của Hợp đồng cho thuê thiết bị xây dựng số 14/2020/DINSG/HDCT/VC ngày 05/02/2020 thì các bên có thỏa thuận về việc “Các tranh chấp giữa các bên tham gia hợp đồng, nếu không tự giải quyết được thì vụ việc tranh chấp sẽ được đưa ra Tòa án Nhân Dân nơi có trụ sở chính của Bên A giải quyết”. Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty trách nhiệm hữu hạn H3 trở lên mã số 0303194040 đăng ký thay đổi lần thứ 8 ngày 30/10/2021 có cơ sở xác định Công ty Trách nhiệm hữu hạn V có địa chỉ trụ sở tại M T, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì tranh chấp nêu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Xét, căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp Công ty Cổ phần M đăng ký thay đổi lần thứ 8 ngày 28/3/2023 có cơ sở xác định Công ty Cổ phần D đã được đổi tên mới là Công ty Cổ phần F có địa chỉ trụ sở tại số C P, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự:
- Xét, ngày 29/3/2024 Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập đương sự ngày 25/3/2024 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 41 ngày 25/3/2024 cho người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Mai Xuân P nhưng ông P vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa ngày 23/4/2024.
- Tại phiên tòa ngày 23/5/2024 người đại diện theo ủy quyền của bị đơn là ông Mai Xuân P tiếp tục vắng mặt lần thứ hai mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập đương sự ngày 23/4/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 43 ngày 23/4/2024. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
[1.3] Về phạm vi khởi kiện:
- Theo đơn khởi kiện ngày 10/5/2023 và trong suốt quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Xuân H là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty TNHH V giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Buộc bị đơn có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn toàn bộ tiền thuê thiết bị xây dựng, tiền bồi thường do làm mất, hư hỏng thiết bị xây dựng và tiền lãi phạt do chậm trả tính đến ngày bản án giải quyết tranh chấp của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Tạm tính đến ngày 24/02/2023 là 492.985.018đ (Bốn trăm chín mươi hai triệu, chín trăm tám mươi lăm ngàn, không trăm mười tám đồng).
- Tại phiên tòa, ông Trần Xuân H là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có yêu cầu được rút một phần yêu cầu khởi kiện ban đầu, cụ thể:
+ Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền thuê thiết bị xây dựng, tiền bồi thường do làm mất, hư hỏng thiết bị xây dựng với tổng số tiền là 478.400.261đ (Bốn trăm bảy mươi tám triệu, bốn trăm ngàn, hai trăm sáu mươi mốt đồng), trong đó công trình AT là 103.097.280đ, công trình K là 258.370.403đ, công trình C là 85.039.910đ và công trình H1 là 31.892.668đ.
+ Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi phạt do chậm trả số tiền 478.400.261đ (Bốn trăm bảy mươi tám triệu, bốn trăm ngàn, hai trăm sáu mươi mốt đồng), Xét, việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn xuất phát từ sự tự nguyện, thuộc phạm vi được ủy quyền và hoàn toàn có lợi cho bị đơn nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định giữa Công ty TNHH V (gọi tắt là Công ty V) với Công ty CP F (gọi tắt là Công ty F) có ký với nhau Hợp đồng cho thuê thiết bị xây dựng số 14 ngày 05/02/2020, Phụ lục hợp đồng về việc cho thuê thiết bị xây dựng số PL01 ngày 12/02/2020, Phụ lục hợp đồng về việc cho thuê thiết bị xây dựng số PL02 ngày 20/02/2020, Phụ lục hợp đồng về việc cho thuê thiết bị xây dựng số PL03 ngày 17/7/2020, Phụ lục hợp đồng về việc cho thuê thiết bị xây dựng số PL04 ngày 03/4/2021, Phụ lục hợp đồng về việc cho thuê thiết bị xây dựng số PL05 ngày 10/5/2021 và Phụ lục hợp đồng về việc cho thuê thiết bị xây dựng số PL06 ngày 03/01/2022. Xét, hình thức và nội dung các bên thỏa thuận trong các hợp đồng, phụ lục hợp đồng phù hợp theo Điều 117, 118 và 119 Bộ luật Dân sự nên có giá trị pháp lý và làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của các bên.
[2.2] Quá trình thực hiện hợp đồng, căn cứ các biên bản giao/nhận hàng do nguyên đơn giao nộp cho Tòa án có cơ sở xác định nguyên đơn đã hoàn thành nghĩa vụ giao thiết bị xây dựng của các công trình A, công trình K, công trình C và công trình H1 cho bị đơn theo đúng thỏa thuận của các bên tại Điều I của Hợp đồng cho thuê thiết bị xây dựng số 14 ngày 05/02/2020. Tại khoản 5.1 và 5.2 Điều V của Hợp đồng cho thuê thiết bị xây dựng số 14 ngày 05/02/2020 thì “Bên A được nhận tiền thuê TBXD hàng tháng đúng như thỏa thuận”; “…Bên B có nghĩa vụ thanh toán đúng thời hạn đã thỏa thuận, nếu chậm trả thì chịu tiền phạt là….” nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán tiền thuê thiết bị xây dựng cho nguyên đơn là có cơ sở, phù hợp theo nội dung thỏa thuận của các bên tại hợp đồng, phù hợp theo quy định tại Điều 481 Bộ luật Dân sự.
[2.3] Theo thỏa thuận của các bên tại khoản 1.2 Điều I của Phụ lục hợp đồng số PL06 ngày 03/01/2022 thì “Bên A sẽ gửi cho Bên B Bảng Tính Tiền Thuê TBXD và Xác nhận Công Nợ theo mẫu do Bên A phát hành khi kết thúc tháng thuê. Bên B kiểm tra và phản hồi cho Bên A trong vòng 07 ngày làm việc (từ ngày 15 đến ngày 22 hàng tháng), sau thời gian 07 ngày làm việc nếu Bên A không nhận được phản hồi của Bên B thì coi như Bảng tính tiền thuê TBXD là chính xác và Bên A sẽ tiến hành xuất hóa đơn và gửi đến Bên B trong vòng 07 ngày làm việc tiếp theo...”. Xét, nguyên đơn đã hoàn tất nghĩa vụ giao tài sản thuê cho bị đơn và đã thực hiện gửi các bảng tính tiền thuê thiết bị xây dựng cho bị đơn, nguyên đơn cũng không nhận được văn bản phản hồi của bị đơn đối với số tiền thuê thiết bị xây dựng nên căn cứ các bảng tính tiền thuê thiết bị xây dựng và hóa đơn giá trị gia tăng do nguyên đơn giao nộp cho Tòa án có cơ sở xác định bị đơn còn nợ nguyên đơn tiền thuê thiết bị xây dựng đối với công trình K là 258.370.403đ, đối với công trình C là 85.039.910đ, đối với công trình H1 là 31.892.668đ. Tổng số tiền thuê thiết bị xây dựng mà bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn là 375.302.981đ (Ba trăm bảy mươi lăm triệu, ba trăm lẻ hai ngàn, chín trăm tám mươi một đồng).
[2.4] Căn cứ Nội dung của thư điện tử mà Công ty D gửi cho Công ty V vào ngày 15/7/2022 có cơ sở xác định bị đơn đã làm mất, hư hỏng thiết bị thuê xây dựng công trình Alpha của nguyên đơn. Theo khoản 5.2 Điều V của Hợp đồng cho thuê thiết bị xây dựng số 14 ngày 05/02/2020 thì “...Bên B phải bảo quản và sử dụng đúng công dụng và năng lực của thiết bị xây dựng, nếu làm mất mát, hư hỏng thì phải thông báo bằng văn bản và fax/email cho bên A ngay tại thời điểm thiết bị xây dựng mất mát, hư hỏng và bồi thường theo 80% đơn giá giá trị thiết bị…” nên yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải bồi thường giá trị do làm mất, hư hỏng thiết bị xây dựng công trình là có cơ sở, phù hợp theo quy định tại Điều 479 Bộ luật Dân sự.
Căn cứ Bảng chiết tính tiền mua (đền) thiết bị xây dựng công trình AT để ngày 27/7/2022 có cơ sở xác định giữa Công ty D với Công ty V thống nhất giá trị bồi thường do làm mất, hư hỏng thiết bị xây dựng công trình là 103.097.280đ. Như vậy, bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn tiền bồi thường do làm mất, hư hỏng thiết bị xây dựng là 103.097.280đ.
[3] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu toàn bộ án phí trên số tiền nguyên đơn yêu cầu được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 30; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 2 Điều 244; Điều 233; Điều 227, 228 và 238; Điều 266; Điều 271, 273; Điều 278 và 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 117, 118 và 119; Điều 472, 473, 474, 476, 479 và 481 Bộ luật Dân sự;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008; Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung 2014 ngày 25/11/2014.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc Công ty Cổ phần F (tên cũ là Công ty Cổ phần D) phải thanh toán cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn V tiền thuê thiết bị xây dựng, tiền bồi thường do làm mất, hư hỏng thiết bị xây dựng với tổng số tiền là 478.400.261đ (Bốn trăm bảy mươi tám triệu, bốn trăm ngàn, hai trăm sáu mươi một đồng), trong đó công trình AT là 103.097.280đ, công trình K là 258.370.403đ, công trình C là 85.039.910đ và công trình H1 là 31.892.668đ. Thanh toán một lần số tiền 478.400.261đ ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án tại thời điểm thanh toán.
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc Công ty Cổ phần F (tên cũ là Công ty Cổ phần D) phải thanh toán tiền lãi phạt do chậm trả số tiền 478.400.261đ (Bốn trăm bảy mươi tám triệu, bốn trăm ngàn, hai trăm sáu mươi một đồng) 3. Án phí sơ thẩm: Công ty Cổ phần F (tên cũ là Công ty Cổ phần D) phải chịu số tiền là 23.136.010đ (Hai mươi ba triệu, một trăm ba mươi sáu ngàn, không trăm mười đồng). H2 lại cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn V số tiền 11.859.700đ (Mười một triệu, tám trăm năm mươi chín ngàn, bảy trăm đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0035039 ngày 25/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10.
4. Về quyền kháng cáo: Đối với đương sự có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày được nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./
Bản án về tranh chấp hợp đồng cho thuê thiết bị xây dựng số 21/2024/KDTM-ST
| Số hiệu: | 21/2024/KDTM-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Quận 10 - Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Kinh tế |
| Ngày ban hành: | 23/05/2024 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về