Bản án về tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản số 11/2024/DS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ

BẢN ÁN 11/2024/DS-ST NGÀY 29/05/2024 VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG CẦM CỐ TÀI SẢN

Ngày 29 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 164/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST- DS ngày 17 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2024/QĐST- DS ngày 03 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH S; Trụ sở đóng tại: Số 128 đường Nguyễn Du, phường Bến Thủy, thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh Nhàn – nhân viên Công ty TNHH S; địa chỉ: 85 Quốc lộ 9, Phường 5, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị, là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền số 04-06/2023/UQ-SVN ngày 01/01/2023), có mặt.

- Bị đơn: Ông Hoàng T; địa chỉ: Kiệt 22/01 đường NTH, Khu phố 1, Phường 2, thành phố Đ H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện ngày 23/11/2023, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn Công ty TNHH S trình bày:

Theo giấy Đăng ký kinh doanh thì Công ty TNHH S hoạt động ở nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực cầm cố tài sản.

Vào ngày 26/04/2023, ông Hoàng T có đến chi nhánh Đông Hà 01 của Công ty tại địa chỉ: Số 85 Quốc Lộ 9, Phường 5, thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị để ký Hợp đồng cầm cố tài sản. Cụ thể theo Hợp đồng số: DHM230401030NA20X ký giữa các bên ngày 26/04/2023, s+ 01 xe môtô hai bánh biển kiểm soát: 74C1-447.25;

+ Loại xe: Yamaha Exciter 150; màu: Xám Đen Cam;

+ Số khung: RLCUG1010KY238611; Số máy: G3D4E1009647;

+ Số Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 043258 do Công an tỉnh Quảng Trị cấp ngày 20/01/2020.

Để lấy số tiền là 17.160.000 đồng; thời hạn cầm cố là 12 tháng (từ ngày 26/04/2023 đến ngày 26/04/2024), với mức lãi suất là 1,1%/ tháng.

Theo hợp đồng cầm cố đã ký thì Công ty đã giải ngân đầy đủ số tiền trên cho ông Hoàng T. Do nhu cầu cần có xe đi lại hàng ngày nên Công ty có ký giấy cho ông Hoàng Tín mượn lại xe sử dụng. Trong Giấy mượn xe có quy định rõ thời hạn mượn xe từ ngày 26/04/2023 đến ngày 26/05/2023, địa điểm trả xe là tại chi nhánh Đông Hà. Ông Hoàng T có cam kết rõ ràng trong giấy mượn xe: “Hoàn trả lại tài sản mượn đúng thời hạn và địa điểm đã thỏa thuận”.

Quá trình trả nợ, ông Hoàng T chưa thanh toán đúng nghĩa vụ theo hợp đồng cho Công ty, đến nay đã quá hạn hợp đồng, ông Hoàng Tín không trả nợ cho Công ty và cũng không trả lại xe máy cho Công ty. Nhân viên của Công ty đã nhiều lần liên hệ qua điện thoại và đến nhà ông Hoàng T nhưng đều không gặp. Công ty đã tạo rất nhiều điều kiện về thời gian để ông Hoàng T trả lại tiền hoặc tài sản là xe máy đã cầm cố cho Công ty, nhưng ông Hoàng T không thực hiện và có biểu hiện trốn tránh, chiếm đoạt tài sản của Công ty.

Nay, Công ty TNHH S khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

1. Buộc ông Hoàng T thanh toán cho Công Ty TNHH S số tiền tính đến ngày 29/5/2024 là: 21.792.000 đồng (hai mươi mốt triệu bảy trăm chín mươi hai nghìn) đồng, bao gồm:

+ Tiền gốc: 14.515.585 đồng;

+ Tiền lãi: 899.497 đồng (1.1%/ tháng);

+ Tiền lãi quá hạn: 819.650 đồng + Phí quản lý hồ sơ: 408.863 đồng (0.5%/ tháng);

+ Phí bảo dưỡng và hao mòn xe khi mượn xe: 5.148.000 đồng (3% /tháng);

2. Yêu cầu ông Hoàng T còn phải tiếp tục chịu lãi suất, phí phát sinh theo hợp đồng cầm cố đã ký từ ngày 30/5/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

3. Trường hợp ông Hoàng T không thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ thì Công Ty TNHH S có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý tài sản cầm cố là chiếc xe môtô biển kiểm soát 74C1-447.25, loại xe Yamaha Exciter 150, theo Hợp đồng cầm cố số DHM230401030NA20X ngày 26/04/2023 để thu hồi nợ vay.

Bị đơn ông Hoàng T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án;

Thông báo phiên hợp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

 Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Xem xét việc vắng mặt của đương sự tại phiên tòa: Bị đơn ông Hoàng T vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Hoàng T.

Về xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngày 26/04/2023, Công Ty TNHH S và ông Hoàng T ký Hợp đồng cầm cố số DHM230401030NA20X, theo đó ông Hoàng T cấm cố xe môtô Yamaha Exciter 150 biển kiểm soát 74C1-447.25 cho Công Ty TNHH S để vay số tiền 17.160.000 đồng. Do đó xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản” được thụ lý và giải quyết bằng vụ án dân sự theo khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

[2] Về nội dung:

Xem xét yêu cầu của nguyên đơn về việc Buộc ông Hoàng T thanh toán cho Công Ty TNHH S số tiền tính đến ngày 29/5/2024 là: 21.792.000 đồng (hai mươi mốt triệu bảy trăm chín mươi hai nghìn) đồng.

Về tiền nợ gốc:

Căn cứ Hợp đồng cầm cố số DHM230401030NA20X ký ngày 26/04/2023, Công ty TNHH S cho ông Hoàng T vay số tiền là 17.160.000 đồng, quá trình thực hiện hợp đồng ông T thanh toán được số tiền 2.644.415 đồng còn nợ lại 14.515.585 đồng. Theo thỏa thuận gốc và lãi trả định kỳ hàng tháng với số tiền 1.583.045 đồng vào ngày 26 hàng tháng kể từ tháng 5/2023 đến tháng 4/2024. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện hợp đồng ông T đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ ngày 27/7/2023. Căn cứ Điều 3 phụ lục hợp đồng cầm cố Công ty TNHH S có quyền chấm dứt hợp đồng, thu hồi nợ trước hạn. Do đó nguyên đơn khởi kiện là có cơ sở nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả số tiền gốc là 14.515.585 đồng.

Về tiền lãi, phí: Lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng là 1,1%/tháng. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Các loại phí được thỏa thuận trong hợp đồng và phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận. Theo đó tiền lãi là 899.497 đồng; Lãi quá hạn là 819.650 đồng; Phí quản lý hồ sơ là 408.863 đồng; Phí bảo dưỡng và hao mòn xe khi mượn xe là 5.148.000 đồng.

Buộc ông Hoàng T có nghĩa vụ trả số tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 30/5/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Trường hợp ông Hoàng T không thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ thì Công Ty TNHH S có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản cầm cố là chiếc xe môtô hiệu Yamaha Exciter 150 biển kiểm soát 74C1-447.25 được cầm cố theo Hợp đồng cầm cố số DHM230401030NA20X ngày 26/04/2023 để thu hồi nợ vay.

[3] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 299; khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 309, 310, 311, 316 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công Ty TNHH S, buộc bị đơn ông Hoàng T có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Công Ty TNHH S tổng số tiền là 21.792.000 đồng (hai mươi mốt triệu bảy trăm chín mươi hai nghìn) đồng, bao gồm: Tiền gốc là 14.515.585 đồng; tiền lãi, phí tính đến ngày 29/5/2024 là 7.276.415 đồng.

Buộc ông Hoàng T phải tiếp tục trả tiền lãi, phí phát sinh từ ngày 30/5/2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo mức lãi suất, phí quy định tại Hợp đồng cầm cố số DHM230401030NA20X ký ngày 26/04/2023.

Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.

Sau khi ông Hoàng T thanh toán xong khoản nợ cho Công Ty TNHH S, Công Ty TNHH S có trách nhiệm trả lại Giấy chứng nhận đăng ký xe môtô số 043258 do Công an tỉnh Quảng Trị cấp ngày 20/01/2020 cho ông Hoàng T.

2. Về án phí:

- Nguyên đơn Công Ty TNHH S không phải chịu án phí. Hoàn trả cho Công Ty TNHH S số tiền tạm ứng án phí là 475.000 (bốn trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000107 ngày 13/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

- Bị đơn ông Hoàng T phải chịu 1.009.000 (một triệu không trăm lẽ chín nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

81
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tranh chấp hợp đồng cầm cố tài sản số 11/2024/DS-ST

Số hiệu:11/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Đông Hà - Quảng Trị
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 29/05/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: [email protected]
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;