Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình số 193/2022/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 193/2022/HNGĐ-ST NGÀY 23/05/2022 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Ngày 23 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội, xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 87/2022/TLST-HNGĐ ngày 17/3/2022, về việc: “Xin ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2022/QĐST- HNGĐ ngày 05/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện K, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Lê Quang H, sinh năm 1982;

Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hà Nội.

Bị đơn: Chị Ứng Thị Thu T, sinh năm 1991;

Nơi ĐKHKTT: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hà Nội. Nơi cư trú: TDP 3, thị trấn S, huyện S, tỉnh Gia Lai.

(Anh H và chị T đều có đơn xin được vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn đề ngày 16/3/2022 và lời khai có trong hồ sơ vụ án Nguyên đơn – Anh Lê Quang H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh H và chị Ứng Thị Thu T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và tổ chức lễ cưới khi được sự đồng ý của hai bên gia đình. Anh và chị T có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T, huyện K, thành phố Hà Nội ngày 23/02/2012. Sau khi kết hôn anh và chị T sống chung với nhau tại thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hà Nội là nhà bố mẹ đẻ anh H. Qúa trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2018 thì 02 vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính mâu thuẫn vợ chồng là do anh và chị T bất đồng quan điểm sống và cách sống không hiểu nhau, hai bên mất niềm tin vào nhau. Khi mâu thuẫn vợ chồng xảy ra, anh và chị T đã được hai bên gia đình khuyên giải và chính bản thân anh, chị cũng đã cố gắng cải thiện cuộc sống vợ, chồng nhưng không có kết quả. Anh và chị T đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Đến bây giờ anh H xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, cuộc sống chung không còn hạnh phúc nên anh H đề nghị Tòa án huyện K xem xét, giải quyết cho anh và chị T được ly hôn trong thời gian sớm nhất để anh sớm ổn định cuộc sống và nuôi dạy con.

- Về quan hệ con chung: Anh H xác nhận anh và chị T có 02 con chung tên là cháu Lê Bảo Khánh, sinh ngày 01/8/2013 và cháu Lê Bảo Nam, sinh ngày 08/8/2016. Hiện nay cháu Khánh đang ở với anh H cùng bố mẹ anh H, còn cháu Nam đang ở với chị T. Khi ly hôn Anh H có nguyện vọng là người được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Lê Bảo Khánh, sinh ngày 01/8/2013 nếu được nuôi cháu Khánh thì anh H không yêu cầu chị T đóng góp tiền nuôi con chung cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác của pháp luật. Chị T là mẹ được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Lê Bảo Nam, sinh ngày 08/8/2016 cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác của pháp luật. Hai bên không phải đóng tiền nuôi con chung cho nhau cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác của pháp luật.

Ngoài ra anh và chị T không có con nuôi hay con riêng nào khác.

- Về tài sản chung, nhà ở chung: Anh và chị T tự thỏa thuận giải quyết và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

- Về nợ chung: Anh và chị T tự thỏa thuận giải quyết và không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Ngoài ra anh H không còn yêu cầu nào khác, không trình bày nội dung nào khác.

Bị đơn – Chị Ứng Thị Thu T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Lê Quang H, sinh năm 1982; Hiện nay đều đang ĐKHKTT: Thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hà Nội. Tôi và anh H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và tổ chức lễ cưới khi được sự đồng ý của 02 bên gia đình. Chúng tôi làm thủ tục đăng ký kết hôn ngày 23/02/2012 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, thành phố Hà Nội. Sau khi cưới chúng tôi về sống chung với nhau tại bố mẹ đẻ anh H ở thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hà Nội một thời gian. Qúa trình vợ chồng chung sống hanh phúc đến tháng 01/2018 chúng tôi phát sinh những mâu thuẫn. Nguyên nhân chính của mâu thuẫn là do vợ chồng tôi thường xuyên bất đồng quan điểm với nhau về nhiều vấn đề của cuộc sống, giữa chúng tôi không có tiếng nói chung, trong tất cả mọi vấn đề chúng tôi đều không thể thống nhất được với nhau, mỗi người một ý không ai chịu nhường ai, tôi mất niềm tin vào anh H. Trong cuộc sống hàng ngày từ những mâu thuẫn nhỏ nhặt cũng xảy ra cãi nhau. Cả hai không còn sự quan tâm tình cảm, mỗi người một kiểu, ai sống như thế nào thì mặc. Do mâu thuẫn của vợ chồng tôi thực sự trầm trọng, chúng tôi thường xuyên cãi nhau, cuộc sống gia đình luôn căng thẳng, không có một lúc nào yên ấm, chúng tôi sống ly thân, cắt đứt quan hệ vợ chồng từ tháng 01 năm 2018 cho đến nay. Từ khi chúng tôi ly thân, cả 02 chúng tôi vẫn không thể nói chuyện được với nhau. Khi mâu thuẫn vợ, chồng sảy ra chúng tôi đã được hai bên gia đình khuyên giải và bản thân chúng tôi đã cố gắng cải thiện cuộc sống vợ chồng nhưng không có kết quả. Nay, tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, chúng tôi không thể hàn gắn, đoàn tụ gia đình được nữa, tôi đồng ý ly hôn với anh H. Tôi đề nghị Tòa án án nhân dân huyện K và lựa chọn Tòa án án nhân dân huyện K xem xét, giải quyết cho tôi được ly hôn với anh H trong thời gian sớm nhất để tôi sớm ổn định cuộc sống và nuôi dạy, chăm sóc con.

- VÒ quan hÖ con chung: Tôi và anh H có 02 con chung tên là cháu Lê Bảo Khánh, sinh ngày 01/8/2013 và cháu Lê Bảo Nam, sinh ngày 08/8/2016. Hiện nay cháu Khánh đang ở với anh H cùng bố mẹ anh H, còn cháu Nam đang ở với tôi. Khi ly hôn tôi có nguyện vọng xin là người được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Lê Bảo Nam, sinh ngày 08/8/2016 nếu được nuôi con chung tôi không yêu cầu anh H đóng góp tiền nuôi con chung cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác của pháp luật. Anh H được nuôi cháu Lê Bảo Khánh, sinh ngày 01/8/2013 cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác của pháp luật. Hai bên không phải đóng tiền nuôi con chung cho nhau cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác của pháp luật.

Ngoài ra tôi và anh H không có con nuôi hay con riêng nào khác.

- Về tài sản chung, nhà ở chung: Chúng tôi tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án xem xột, giải quyết.

- Về nợ chung: Chúng tôi tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Vì lý do công việc nên tôi phải vào Gia Lai và Thành phố Hồ Chí Minh một thời gian nên tôi xin phép được vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án nhân dân huyện K giải quyết, xét xử vụ án ly hôn giữa anh H với tôi. Tôi và anh H cũng thống nhất làm đơn lựa chọn Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội là Tòa án giải quyết, xét xử vụ án ly hôn của tôi và anh H.

Chị T đề nghị Tòa án cho chị xin được vắng mặt trong các buổi làm việc cũng như tại phiên tòa và gửi các văn bản tố tụng cho tôi theo địa chỉ: Tổ dân phố 3, thị trấn S, huyện S, tỉnh Gia Lai.

Ngoài ra chị T không trình bày thêm ý kiến và không có yêu cầu gì khác.

Đối với 01 con chung của anh H và chị T là cháu Lê Bảo Khánh, sinh ngày 01/8/2013 đã đủ 07 tuổi nên tòa án đã ghi nguyện vọng của cháu Khánh khi anh H và chị T ly hôn thì cháu Khánh có nguyện vọng xin được ở với anh H.

Đối với vụ án này Toà án không hòa giải được về quan hệ hôn nhân vì vắng mặt bị đơn. Bị đơn chị Ứng Thị Thu T đã có đơn xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình tòa án giải quyết, xét xử sơ thẩm (Đơn đề ngày 23/4/2022). Do vậy, việc xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định Điều 227 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự.

Tại phiên tòa ngày hôm nay: Anh H và chị T đều có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa;

Anh Lê Quang H vẫn giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn với chị Ứng Thị Thu T và nội dung các lời khai mà anh đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án;

Chị Ứng Thị Thu T vẫn giữ nguyên ý kiến đồng ý ly hôn với anh Lê Quang H và nội dung các lời khai mà chị đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.

Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà nhận xét và đề nghị:

- Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng các quy định của Bộ Luật Tố tụng Dân sự. Những người tham gia tố tụng chấp hành tốt các quy định của pháp luật. Nguyên đơn - Anh Lê Quang H có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm là đúng với quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; Bị đơn - Chị Ứng Thị Thu T đã có đơn xin vắng mặt trong toàn bộ quá trình tòa án giải quyết, xét xử sơ thẩm (Đơn đề ngày 23/4/2022) và có lời khai đề nghị Tòa án xử cho chị được ly hôn với anh Lê Quang H là phù hợp với quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

- Về nội dung:

+ Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227, khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 19, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

+ Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Lê Quang H đối với chị Ứng Thị Thu T. Anh H được ly hôn với chị T.

+ Về con chung: Giao 01 con chung là cháu Lê Bảo Khánh, sinh ngày 01/8/2013 cho anh H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao 01 con chung là cháu Lê Bảo Nam, sinh ngày 08/8/2016 cho chị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung của anh H và chị T cho đến khi cháu Khánh, cháu Nam trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác của pháp luật.

+ Về tài sản chung và nợ chung vợ chồng: Anh H, chị T không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

Tuyên về án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền: Đây là vụ án tranh chấp về ly hôn nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân. Trong vụ án, bị đơn là chị Ứng Thị Thu T có đăng ký hộ khẩu thương trú tại thôn T, xã T, huyện K, thành phố Hà Nội nhưng vì lý do công việc chị T phải vào Gia Lai và Thành phố Hồ Chí Minh một thời gian nên chị T xin phép được vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án nhân dân huyện K giải quyết, xét xử vụ án ly hôn giữa anh H với chị. Anh H và chị T cũng thống nhất làm đơn lựa chọn Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội là Tòa án giải quyết, xét xử vụ án ly hôn của anh, chị nên căn cứ vào các Điều 35, Điều 39 và Điều 40 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện K, thành phố Hà Nội.

Nguyên đơn – Anh Lê Quang H và Bị đơn – Chị Ứng Thị Thu T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa; Anh H, chị T đã có lời khai tại Tòa án đồng thời anh, chị có đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 227 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Lê Quang H và chị Ứng Thị Thu T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và tổ chức lễ cưới khi được sự đồng ý của 02 bên gia đình. Anh H và chị T làm thủ tục đăng ký kết hôn ngày 23/02/2012 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện K, thành phố Hà Nội. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Vợ, chồng chung sống hoà thuận được đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng.

[3]. Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ, chồng: Căn cứ vào những lời khai của anh H, chị T Hội đồng xét xử nhận định: Anh Lê Quang H và chị Ứng Thị Thu T trong quá trình chung sống tính cách không hợp nhau, hai bên mất niềm tin vào nhau nên anh, chị đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Anh H, chị T đã ở riêng và sống ly thân trong một thời gian rất dài và 02 vợ chồng không ai còn quan tâm, chăm sóc đến nhau. Anh H, chị T đều xác định đến nay tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ, chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không còn hạnh phúc, không còn khả năng đoàn tụ nên anh H, chị T yêu cầu xin được ly hôn.

Quá trình giải quyết vụ án, ngày 23/4/2022 – Chị T đã có lời khai và đồng ý ly hôn với anh H. Do đó, lời khai của anh H và chị T là có căn cứ.

Theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “Vợ chồng phải, thương yêu, chung T, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình và xã hội”. Như vậy, mục đích hôn nhân của vợ, chồng của anh H và chị T không đạt được, đời sống chung vợ, chồng đã chấm dứt. Do vậy, xét thấy cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh H là phù hợp với khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4]. Về con chung: Anh H và chị T thống nhất xác định anh, chị có 02 con chung tên là cháu Lê Bảo Khánh, sinh ngày 01/8/2013 và cháu Lê Bảo Nam, sinh ngày 08/8/2016. Hiện nay cháu Khánh đang ở với anh H cùng bố mẹ anh H, còn cháu Nam đang ở với chị T. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng xin là người được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung là cháu Lê Bảo Nam, sinh ngày 08/8/2016 nếu được nuôi con chung chị T không yêu cầu anh H đóng góp tiền nuôi con chung cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác của pháp luật. Anh H có nguyện vọng xin được nuôi cháu Lê Bảo Khánh, sinh ngày 01/8/2013 cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác của pháp luật. Hai bên không phải đóng tiền nuôi con chung cho nhau cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác của pháp luật.

Để tránh xáo trộn cuộc sống của con chung của anh H và chị T và cũng như để đảm bảo quyền lợi của các cháu nên Hội đồng xét xử xét thấy cần giao 01 con chung là cháu Lê Bảo Nam, sinh ngày 08/8/2016 cho chị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là hợp tình, hợp lý, đúng với quy định của pháp luật và cũng phù hợp với nguyện vọng của chị T; Giao 01 con chung là cháu Lê Bảo Khánh, sinh ngày 01/8/2013 cho anh H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là hợp tình, hợp lý, đúng với quy định của pháp luật và cũng phù hợp với nguyện vọng của anh H và cháu Khánh. Chị T không yêu cầu anh H phải có trách nhiệm đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung, anh H cũng không yêu cầu chị T phải có trách nhiệm đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận và tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung đối với anh H và chị T cho đến khi các con chung của anh H và chị T trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có yêu cầu mới.

[5]. Về tài sản chung và công nợ chung vợ chồng: Anh H và chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[6]. Về án phí: Anh Lê Quang H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 40, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Áp dụng Điều 19, 51, 56, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Áp dụng Luật thi hành án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Quang H đối với chị Ứng Thị Thu T. Anh Lê Quang H được ly hôn với chị Ứng Thị Thu T.

2. Về con chung: Anh H và chị T thống nhất xác định anh, chị có 02 con chung tên là cháu Lê Bảo Khánh, sinh ngày 01/8/2013 và cháu Lê Bảo Nam, sinh ngày 08/8/2016. Giao 01 con chung là cháu Lê Bảo Khánh cho anh Lê Quang H là bố được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Khánh trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có yêu cầu mới. Tạm hoãn nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung đối với chị Ứng Thị Thu T đến khi cháu Khánh trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có yêu cầu mới. Giao 01 con chung là cháu Lê Bảo Nam cho chị Ứng Thị Thu T là mẹ được trực tiếp được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu Nam trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có yêu cầu mới. Tạm hoãn nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Lê Quang H đến khi cháu Nam trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc đến khi có yêu cầu mới.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Anh Lê Quang H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh H đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số AA/2020/0073116, ngày 17/3/2022 tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện K nay được chuyển thành án phí. Anh Lê Quang H không phải nộp thêm tiền án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án và người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận việc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt Nguyên đơn - Anh Lê Quang H và bị đơn - Chị Ứng Thị Thu T. Anh Lê Quang H và chị Ứng Thị Thu T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được Tòa án tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

17
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tranh chấp hôn nhân và gia đình số 193/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:193/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tây Hồ - Hà Nội
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 23/05/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;