TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BẢN ÁN 1152/2023/LĐ-PT NGÀY 07/12/2023 VỀ TRANH CHẤP ĐÒI TIỀN LƯƠNG
Trong ngày 07 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 50/2023/TLPT-LĐ ngày 02 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp đòi tiền lương”.
Do Bản án lao động sơ thẩm số 02/2023/LĐ-ST ngày 26 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4745/2023/QĐ-PT ngày 16 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 14996/2023/QĐ-PT ngày 10 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Thái Thị Thùy T, sinh năm 1994.
Địa chỉ thường trú: B8/231 ấp B, xã Đ, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: D M, Phường I, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số công chứng 00004362, quyển số 03/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 14/3/2023):
- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1990 (có mặt).
- Hoặc ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1988 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: 1 Đường số A, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Công ty Cổ phần S.
Trụ sở: A V, Phường F, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Minh Q, sinh năm 1970, chức danh: Tổng Giám đốc (vắng mặt).
Địa chỉ: 2 T, phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Vương Chí T2, sinh năm 1977 (vắng mặt).
Địa chỉ: D N, Phường I, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người kháng cáo: Bà Thái Thị Thùy T - Nguyên đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 31/10/2020, đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 14/11/2020 của nguyên đơn, các ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án của người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Văn T1, ông Nguyễn Văn N trình bày: Vào năm 2018 - 2019, bà Thái Thị Thùy T (gọi tắt là nguyên đơn) và Công ty Cổ phần S (gọi tắt là bị đơn) xác lập hợp đồng lao động không xác định thời hạn bằng lời nói. Ông Vương Chí T2 là người đã liên hệ nguyên đơn vào làm việc cho bị đơn. Công việc của nguyên đơn là múa phục vụ tiệc, lương khoảng từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng/01 tiệc. Thời gian đầu, bị đơn trả lương cho nguyên đơn đầy đủ, sau đó đã nợ lương trong nhiều tháng với tổng số tiền 46.000.000 đồng. Đến tháng 8/2019, bị đơn đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với nguyên đơn. Nhận thấy quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn và ông Vương Chí T2 cùng liên đới thanh toán số tiền lương còn nợ là 46.000.000 đồng một lần ngay sau khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn trả tiền lãi suất đối với số tiền này. Nguyên đơn đã giao kết hợp đồng lao động với bị đơn, không thỏa thuận hợp đồng lao động với cá nhân ông Vương Chí T2.
Bị đơn Công ty Cổ phần S do ông Lê Minh Q đại diện theo pháp luật vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng nên không có ý kiến trình bày về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vương Chí T2 vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng nên không có ý kiến trình bày.
Tại Bản án lao động sơ thẩm số 02/2023/LĐ-ST ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn và ông Vương Chí T2 thanh toán khoản tiền bị nợ lương từ tháng 01 năm 2018 đến tháng 7 năm 2019 với tổng số tiền là 46.000.000 đồng. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo.
Ngày 08/5/2023, nguyên đơn nộp Đơn kháng cáo toàn bộ bản án lao động sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, Nguyên đơn vẫn giữ nguyên các yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa toàn bộ bản án lao động sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn và ông Vương Chí T2 thanh toán cho nguyên đơn tiền lương bị nợ từ tháng 01/2018 đến tháng 7/2019 với tổng số tiền 46.000.000 đồng, trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vương Chí T2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.
Kiểm sát viên - Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm:
Về tố tụng: Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý vụ án đúng thẩm quyền. Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án: Có thông báo bằng văn bản cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp về việc thụ lý vụ án, quyết định xét xử cùng hồ sơ vụ án chuyển Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Căn cứ những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự, kết quả tranh luận tại phiên tòa; xét thấy kháng cáo của nguyên đơn không có cơ sở. Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án lao động sơ thẩm số 02/2023/LĐ-ST ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và kết luận của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về việc chấp hành pháp luật tố tụng và nội dung của vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Đơn kháng cáo nộp đến Tòa án cấp sơ thẩm ngày 08/5/2023 của nguyên đơn thực hiện trong thời hạn luật định nên được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận.
[1.2] Việc xác định thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp của Tòa án cấp sơ thẩm phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 nên được Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận.
[2]. Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
[2.1]. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cho rằng: Ngày 18/6/2017, nguyên đơn có ký hợp đồng lao động với ông Vương Chí T2, chức vụ: Trưởng điều hành, đại diện cho Công ty C. Đến tháng 01/2018 (không nhớ rõ ngày nào), nguyên đơn và bị đơn có giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói; nội dung công việc: Múa trong các tiệc cưới, liên hoan, sinh nhật, hội nghị,...; mức lương: 2.000.000 đồng/tiệc và nhận thanh toán bằng tiền mặt. Nguyên đơn bị nợ lương từ tháng 01/2018 đến tháng 7/2019 khoảng 23 tiệc với tổng cộng số tiền 46.000.000 đồng. Tuy nhiên, nguyên đơn không nhớ chính xác thời gian cụ thể thực hiện 23 tiệc này. Nguyên đơn xác định chỉ xác lập quan hệ lao động với bị đơn, không xác lập quan hệ lao động với ông Vương Chí T2.
[2.2]. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và sự xác nhận của nguyên đơn tại phiên tòa phúc thẩm, có cơ sở để Hội đồng xét xử xác định: Nguyên đơn không có sự thỏa thuận với bị đơn để giao kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn từ tháng 01/2018, công việc: múa trong các tiệc cưới, liên hoan, sinh nhật, hội nghị,... với mức lương 2.000.000 đồng/tiệc, được bị đơn trả trực tiếp sau khi kết thúc mỗi tiệc. Đồng thời, không có căn cứ xác định bị đơn đã ủy quyền cho ông Vương Chí T2 giao kết hợp đồng lao động, giải quyết tiền lương, thưởng và các chế độ bảo hiểm khi giao kết hợp đồng lao động với nguyên đơn.
[2.3]. Căn cứ công văn số 584/BHXH-THU ngày 25/11/2022 của Bảo hiểm xã hội Q1, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện: Qua kiểm tra dữ liệu thu, tính đến ngày 25/11/2022, Công ty Cổ phần S chưa lập hồ sơ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động và cho bà Thái Thị Thùy T. Bảo hiểm xã hội Q1 cũng chưa có hồ sơ lưu trữ liên quan đến việc tham gia bảo hiểm xã hội đối với người lao động tại Công ty Cổ phần S.
[2.4]. Nguyên đơn là người khởi kiện nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho việc hai bên đã giao kết hợp đồng lao động, những ngày đã thực hiện công việc được giao và bị đơn còn thiếu 46.000.000 đồng, làm cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét số tiền bị đơn còn thiếu. Căn cứ các khoản 1, 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở nên Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên.
[3]. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên Bản án lao động sơ thẩm số 02/2023/LĐ-ST ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh là có căn cứ nên chấp nhận.
[4]. Án phí lao động sơ thẩm và phúc thẩm:
[4.1]. Nguyên đơn được miễn án phí lao động sơ thẩm và phúc thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 12, Điều 16 và Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
[4.2]. Bị đơn không phải chịu án phí lao động sơ thẩm và phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 32, khoản 1 Điều 148, Điều 293, khoản 2 Điều 296, khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng: Các Điều 13, 14, 39, 187 và Điều 190 Bộ luật lao động năm 2019; Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014);
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Tuyên xử: Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn bà Thái Thị Thùy T. Giữ nguyên Bản án lao động sơ thẩm số 02/2023/LĐ-ST ngày 26/4/2023 của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Thái Thị Thùy T về việc buộc Công ty Cổ phần S và ông Vương Chí T2 thanh toán khoản tiền bị nợ lương từ tháng 01 năm 2018 đến tháng 7 năm 2019 với tổng cộng số tiền là 46.000.000 đồng (bốn mươi sáu triệu đồng).
2. Án phí lao động sơ thẩm:
2.1. Bà Thái Thị Thùy T được miễn án phí lao động sơ thẩm.
2.2. Công ty Cổ phần S không phải chịu án phí lao động sơ thẩm.
3. Án phí lao động phúc thẩm:
3.1 Bà Thái Thị Thùy T được miễn án phí lao động phúc thẩm.
3.2 Công ty Cổ phần S không phải chịu án phí lao động phúc thẩm.
4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án về tranh chấp đòi tiền lương số 1152/2023/LĐ-PT
| Số hiệu: | 1152/2023/LĐ-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Hồ Chí Minh |
| Lĩnh vực: | Lao động |
| Ngày ban hành: | 07/12/2023 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về