Bản án về tranh chấp dân sự về dịch vụ số 158/2024/DS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁP MƯỜI, TỈNH ĐỒNG THÁP

BẢN ÁN 158/2024/DS-ST NGÀY 23/08/2024 VỀ TRANH CHẤP DÂN SỰ VỀ DỊCH VỤ

Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 232/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 4 năm 2024. Về việc “Tranh chấp dân sự về hợp đồng dịch vụ” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 310/2024/QĐXXST-DS ngày 23 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 232/2024/QĐST-DS, ngày ngày 08 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lương Văn T, sinh năm 1957.

Địa chỉ: Ấp C, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Anh Mai Văn A, sinh năm 1981.

Địa chỉ: Ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. (Ông T có mặt; Anh A vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Nguyên đơn ông Lương Văn T trình bày và yêu cầu:

Vào năm 2007, ông Lương Văn T có tham gia làm cổ đông của Trạm bơm Đốc Binh Kiều 3, do ông Phạm Văn Q làm Trưởng trạm có 13 thành viên. Đến tháng 02/2011, Trạm bơm làm ăn thua lỗ nên họp các thành viên thống nhất giải thể và quá giá Trạm bơm với số tiền 400.000.000 đồng. Ông T đứng ra mua lại Trạm bơm với giá là 400.000.000 đồng, ông T trả đủ tiền cho 12 cổ đông. Vậy kể từ tháng 02/2011, ông T được quyền làm trưởng Trạm bơm Đốc Binh Kiều 3, hoạt động với tư cách là tư nhân.

Trong quá trình hoạt động, ông T là người trực tiếp bơm nước cho các hộ dân ở ấp C, ấp D, xã Đ, trong đó có anh Mai Văn A. Năm 2022, Trạm bơm có bơm nước tưới tiêu cho anh Mai Văn A, tổng cộng 01 vụ rưỡi. Diện tích 5.000m2, giá bơm nước là 110.000 đồng/1.000m2/1 vụ, thành tiền là 825.000 đồng.

Do các hộ dân cố tình không trả tiền bơm nước cho ông T, làm cho ông T lâm vào hoàn cảnh khó khăn về kinh tế.

Nay, ông Lương Văn T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Mai Văn A có trách nhiệm trả lại cho ông T số tiền bơm nước còn nợ 825.000 đồng.

Tại phiên họp, ông T xác định anh A còn nợ tiền bơm nước của vụ Đông Xuân năm 2022 và nữa vụ 3 năm 2022, với diện tích canh tác là 5.000m2. Ông T yêu cầu tính với giá là 85.000 đồng/công/vụ. Yêu cầu anh A trả số tiền tổng cộng là 637.500 đồng (Sáu trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

Tại phiên toà, ông T xin thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu anh A trả số tiền thủy lợi phí còn nợ là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng).

* Bị đơn anh Mai Văn A đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, không có văn bản trình bày ý kiến, không cung cấp tài liệu, chứng cứ.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn đã chấp hành đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật.

Bị đơn chưa chấp hành đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật.

- Về việc nội dung vụ án:

Căn cứ Điều 519 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử tuyên xử:

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn T buộc ông Mai Văn A trả thủy lợi phí còn nợ 1,5 vụ năm 2022 với giá 66.000 đồng/1.000m2/1 vụ đối với diện tích đất 5.000m2 (66.000 đồng/1.000m2/1 vụ x 1,5 vụ x 5.000m2) số tiền là 495.000 đồng.

- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn T đối với thủy lợi phí ông Mai Văn A còn nợ 225.000 đồng do rút yêu cầu.

- Buộc các đương sự chịu án phí theo quy định

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười.

Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Ông T khởi kiện yêu cầu anh A trả số tiền phí dịch vụ bơm nước còn nợ, anh A có địa chỉ cư trú tại ấp D, xã Đ, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp dân sự về hợp đồng dịch vụ” thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Tháp Mười.

[1.2] Về chấp hành pháp luật: Bị đơn anh Mai Văn A đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh A.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Theo đơn khởi kiện, ông T xác định anh A còn nợ tiền bơm nước của vụ Đông Xuân năm 2022 và nữa vụ 3 năm 2022, với diện tích canh tác là 5.000m2, với giá 110.000 đồng/1.000m2/vụ, tổng cộng là 825.000 đồng (Tám trăm hai mươi lăm nghìn đồng).

Tại phiên họp ngày 23/7/2024, ông T xin thay đổi yêu cầu, chỉ yêu cầu tính với giá là 85.000 đồng/1.000m2/vụ. Yêu cầu anh A trả số tiền tổng cộng là 637.500 đồng (Sáu trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm đồng).

Tại phiên tòa, ông T xin thay đổi yêu cầu, chỉ yêu cầu anh A trả số tiền thủy lợi phí còn nợ là 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng).

[2.2] Theo lời khai của người làm chứng thì anh A đã chuyển đổi canh tác sang trồng vườn từ khoảng 04 năm. Theo kết quả xác minh, thu thập chứng cứ thì Trạm bơm Đốc Binh K 6 và Trạm bơm Đốc Binh Kiều 6 mở rộng thu tiền bơm nước đối với đất vườn là 60% so với đất trồng lúa, Trạm bơm Đốc Binh Kiều 5 thu tiền bơm nước đối với đất vườn là 50% so với đất trồng lúa.

Hội đồng xét xử xét thấy việc thu phí bơm nước đối với đất vườn ở cùng khu vực xã Đ giữa các trạm bơm ở mức tương đương 60% so với đất trồng lúa nên buộc bị đơn có trách nhiệm trả cho ông T tiền thuỷ lợi phí ở mức 60% so với đất trồng lúa là phù hợp.

Đối với anh A đã được triệu tập hợp lệ tham dự các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và các phiên tòa xét xử, nhưng vẫn vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến. Căn cứ Điều 70, Điều 73, Điều 91, Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì các đương sự đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình, từ bỏ quyền chứng minh và không phản đối những tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn giao nộp cho Tòa án.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của ông T là có một phần căn cứ chấp nhận. Buộc anh A trả cho ông T tiền thủy lợi phí của 1,5 vụ với giá bằng 60% so với đất trồng lúa (110.000 đồng/1.000m2/vụ) với diện tích 5.000m2, tổng cộng là 495.000 đồng (Bốn trăm chín mươi lăm nghìn đồng).

[3] Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Anh A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Lương Văn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Không phải hoàn trả tiền tạm ứng án phí do ông T được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, thuộc trường hợp người cao tuổi theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tháp Mười là có một phần cơ sở nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 91, Điều 96, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 513, Điều 515, Điều 519 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lương Văn T. Buộc anh Mai Văn A trả cho ông T tiền thủy lợi phí còn nợ là 495.000 đồng (Bốn trăm chín mươi lăm nghìn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án mà bên phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi trên số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành án đến khi thi hành xong.

2. Không chấp nhận yêu cầu của ông T về việc yêu cầu anh A trả số tiền 105.000 đồng (Một trăm lẻ năm nghìn đồng).

3. Về án phí:

Anh A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Ông Lương Văn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Không phải hoàn trả tiền tạm ứng án phí do ông T được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, thuộc trường hợp người cao tuổi theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

4. Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự,

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

84
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tranh chấp dân sự về dịch vụ số 158/2024/DS-ST

Số hiệu:158/2024/DS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Tháp Mười - Đồng Tháp
Lĩnh vực:Dân sự
Ngày ban hành: 23/08/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: [email protected]
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;