Bản án về tội vi phạm quy định khai thác tài nguyên số 50/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIẾN GIANG

BẢN ÁN 50/2024/HS-ST NGÀY 24/07/2024 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH KHAI THÁC TÀI NGUYÊN

Ngày 24 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

- Dương Hữu N; sinh ngày 14 tháng 7 năm 1999, tại Tiền Giang (Số CMND: 08209900xxxx).

- Nơi cư trú: ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Nghề nghiệp: Làm thuê; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 06/12;

- Con ông Dương Văn M và bà Nguyễn Thị Y;

- Vợ: Ta Thị Thanh P và có 01 con sinh năm 2023;

- Tiền án: Không.

- Tiền sự: Ngày 22/12/2022, Dương Hữu N bị UBND huyện C, tỉnh Tiền Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi khai thác khoáng sản là cát, sỏi lòng sông trái phép theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 64/QĐ-XPHC số tiền phạt là 25.000.000 đồng.

- Bị can được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh trong giai đoạn điều tra, truy tố (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Trần Quốc T, sinh năm 1991 (có mặt) Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp.

2. Phan Thanh L, sinh năm 1986 (có mặt) Địa chỉ: số B, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 21 giờ 40 phút, ngày 26/6/2023, trên tuyến Sông N thuộc ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, tổ công tác phòng chống khai thác cát của xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang phát hiện Dương Hữu N điều khiển phương tiện thủy nội địa (tàu sắt) không biển kiểm soát cùng Trần Quốc T, sinh năm 1991, ngụ ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Tháp đang khai thác cát lòng sông mà không có giấy phép khai thác khoáng sản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, khối lượng cát khai thác trái phép là 11,934 m3.

Tang vật, phương tiện thu giữ gồm:

- Cát, sỏi lòng sông: 11,934 m3 (đã bao gồm 20 kg thu mẫu để giám định);

- 01 tàu sắt không biển kiểm soát đã cũ.

- 01 máy bơm hút cát (bao gồm ống và đầu máy);

- 01 máy đẩy (không rõ nhãn hiệu).

Tại Bản kết luận giám định số 5696/KL-KTHS ngày 06/10/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Mẫu cát gửi giám định là khoáng sản.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 38/KL-HPDGTS ngày 15/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Tiền Giang xác định 11,934m3 cát sông trị giá 1.432.080 đồng.

Quá trình điều tra xác định:

Ngày 22/12/2022, Dương Hữu N đã bị UBND huyện C, tỉnh Tiền Giang xử phạt vi phạm hành chính (Theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 64/QĐXPHC) về hành vi khai thác cát lòng sông mà không có giấy phép khai thác khoáng sản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, mức phạt tiền 25.000.000 đồng; ngày 24/12/2022, N đã nhận quyết định nhưng chưa đóng phạt. Ngày 24/6/2023, Phan Thanh L, sinh ngày 01/01/1986, ngụ số B, ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre thuê Dương Hữu N, Trần Quốc T, đưa 7.000.000 đồng để cả hai đi tìm các sà lan lớn để mua cát về bán lại cho người dân san lắp mặt bằng; sau khi nhận tiền của anh L thì N, T không thực hiện theo yêu cầu của anh L mà sử dụng số tiền trên tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 26/6/2023, T và N bàn bạc thống nhất tự ý sử dụng phương tiện có sẵn trên tàu của anh Phan Thanh L đến khu vực tuyến sông N thuộc ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang khai thác cát trái phép để có cát đi giao cho anh Phan Thanh L thì bị lực lượng chức năng phát hiện.

- Về nguồn gốc phương tiện: Phương tiện thủy nội địa Dương Hữu N sử dụng thực hiện hành vi khai thác cát trái phép là của Phan Thanh L mua của bà Trương Thị Ú (không rõ thông tin nhân thân) vào tháng 5/2023 không có giấy chứng nhận, anh L mua về mục đích đi thu mua cát. Sau đó anh Phan Thanh L thuê Dương Hữu N, Trần Quốc T đi mua cát giá 800.000 đồng/chuyến.

- Đối với Trần Quốc T thực hiện hành vi khai thác tài nguyên trái phép, nhưng khối lượng khai thác trái phép khoáng sản là 11,934m³, có giá trị là 1.432.080 đồng, Trần Quốc T chưa có tiền án, tiền sự về hành vi: “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên” nên hành vi của Trần Quốc T chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngày 16/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T có Văn bản số 819/CSKT đề nghị Công an huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Quốc T.

- Đối với Phan Thanh L giao phương tiện không có nguồn gốc rõ ràng cho Dương Hữu N, Trần Quốc T tham gia lưu thông thủy nội địa. Việc N, T tự ý sử dụng phương tiện của Phan Thanh L thực hiện hành vi bơm hút cát trái phép anh Phan Thanh L hoàn toàn không biết nên không đồng phạm với Dương Hữu N về tội: “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên” quy định tại Điều 227 Bộ luật hình sự. Ngày 16/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T có Văn bản số 819/CSKT đề nghị Công an huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phan Thanh L về hành vi vi phạm quy định trong lĩnh vực an toàn giao thông.

Quá trình tiến hành tố tụng Dương Hữu N có thái độ thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải hành vi phạm tội đã thực hiện. Bị cáo chưa có tiền án, mới phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKSTG-P1 ngày 21 tháng 6 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Dương Hữu N về tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên”, quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Bị cáo Dương Hữu N khai nhận hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang truy tố đối với bị cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa có ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Dương Hữu N. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm điểm đ khoản 1 Điều 227; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt bị cáo N 09 đến 12 tháng tù và xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Xét các quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, truy tố và hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền và trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại về quyết định, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, truy tố và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Lời khai nhận của bị cáo Dương Hữu N tại phiên tòa phù hợp với vật chứng thu giữ, kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác do cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 21 giờ 40 phút ngày 26/6/2023, tại tuyến sông N thuộc địa giới hành chính ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, bị cáo N cùng với anh Trần Quốc T đang khai thác cát từ lòng sông thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang cùng vật chứng là phương tiện, công cụ thực hiện hành vi phạm tội và 11,934m³ khoáng sản cát tự nhiên, trị giá 1.432.080 đồng.

Xét nhân thân bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi khai thác trái phép tài nguyên mà còn vi phạm. Vì thế, Cáo trạng của Viện kiểm sát và lời luận tội của Kiểm sát viên đề nghị xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên” theo điểm đ khoản 1 Điều 227 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[3] Nhận thấy, về ý thức chủ quan bị cáo nhận thức được rằng, Nhà nước là chủ thể thực hiện quyền quản lý, khai thác, sử dụng khoáng sản một cách hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả nhằm phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh. Chỉ những tổ chức, cá nhân được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép mới được quyền hoạt động thu hồi khoáng sản. Thế nhưng, chỉ vì muốn có tiền mà bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật, cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên cần phải xử phạt nghiêm khắc.

[4] Tuy nhiên xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo. Do đó, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo là phù hợp nên chấp nhận.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Đối với phương tiện ghe vỏ sắt và các dụng cụ mà bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội là tài sản không có giấy tờ hợp pháp hoạt động giao thông đường thủy nội địa, không biển kiểm soát nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

- Số lượng cát tạm giữ là tài sản phạm tội nên tịch thu để trả trở về môi trường tại vị trí khai thác trái phép.

[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Dương Hữu N phạm tội “Vi phạm quy định về khai thác tài nguyên”.

Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 227; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 35 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Dương Hữu N 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng). Khấu trừ số tiền 300.000.000 đồng bị cáo đã nộp theo biên lai thu số 0000223 ngày 22/7/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang xem như đã thi hành xong hình phạt.

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước:

+ 01 (một) tàu sắt đã qua sử dụng, không biển kiểm soát.

+ 01 (một) máy bơm hút cát đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động bên trong.

+ 01 (một) ống bơm hút cát đã qua sử dụng.

+ 01 (một) máy đẩy (không rõ nhãn hiệu, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng hoạt động bên trong máy).

- Tịch thu 11,934m3 cát, sỏi (Trừ 20kg thu mẫu để phục vụ công tác giám định) trả về môi trường lòng sông tại vị trí khai thác tọa độ X 00544464 - Y 01139901 thuộc thủy phận ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh T với Cục thi hành án dân sự ngày 23/7/2024).

* Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Dương Hữu N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

44
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tội vi phạm quy định khai thác tài nguyên số 50/2024/HS-ST

Số hiệu:50/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Tiền Giang
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 24/07/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: [email protected]
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;