TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
BẢN ÁN 236/2024/HS-ST NGÀY 28/08/2024 VỀ TỘI VI PHẠM QUY ĐỊNH AN TOÀN LAO ĐỘNG
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở TAND huyện Trảng Bom xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 229/2024/ TLST-HS ngày 07/8/2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 226/2024/QĐXX-HS ngày 14/8/2024 đối với các bị cáo:
- Phan Văn T, sinh năm 1982 tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Tổ 32 thôn Bắc Hợp, ấp An Chu, xã B, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn Thái (Còn sống) và bà Lê Thị Bình (Còn sống); Có vợ: Nguyễn Thị Nhung, có 03 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
- Trần Khắc G, sinh năm 1991 tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; Hộ khẩu thường trú: Thôn Đồng Hòa, xã T, huyện Th Chương, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Ấp An Chu, xã B, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Khắc Tr (Còn sống) và bà Nguyễn Thị Th (Còn sống); Vợ: Hồ Thị Anh, có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo tại ngoại, có mặt.
-Bị hại:
+ Ông Lê Văn H, sinh năm 1997 (đã chết).
+ Người đại diện hợp pháp cho bị hại: bà Hùng Thị Th X, sinh năm 1978. Địa chỉ: khu phố 5, thị trấn Tân Sơn, huyện Ninh Sơn, tỉnh Ninh Thận, vắng mặt.
- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH Z. Địa chỉ: Lô VI-2C, KCN H, xã H 3, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Kuo Teng Nung-Chủ tịch HĐTV kiêm tổng giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: bà Vũ Mộng L-Nhân viên tổng vụ, có đơn xin vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Phan Văn Th, sinh năm 1987. Trú tại: ấp Th Hóa, xã H 3, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH Z, địa chỉ: KCN H, xã H 3, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, có giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 3600869608 do Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Đồng Nai cấp ngày 22/10/2018, ngành nghề chuyên xử lý nhiệt sắt thép, do ông Kuo Teng-Nung sinh năm 1962 Quốc tịch Tr Quốc làm Tổng giám đốc.
Trong quá trình vận hành, thử dây chuyền xử lý nhiệt mới lắp ráp tại xưởng, nhận thấy hệ thống dẫn cồn không đủ áp lực nên phía chuyên gia yêu cầu Công ty TNHH Z nâng cao chân bồn chứa cồn công nghiệp cao thêm 02 mét. Do đó ông Kuo Cheng Chung, giữ chức vụ Phó Tổng giám đốc đã yêu cầu Phan Văn T giữ chức vụ: Phó xưởng, đồng thời được giao nhiệm vụ làm công tác an toàn, vệ sinh lao động tại công ty tiến hành việc nâng chân bồn. Sau đó, Đồng đã giao nhiệm vụ trên cho Trần Khắc G, giữ chức vụ Trưởng phòng sản xuất phân công người để hàn xì nâng chân bồn. Giang đã phân công anh Lê Văn H và anh Phan Văn Th là công nhân làm việc tại bộ phận nhiệt của Công ty cùng làm.
Khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 30/3/2023 anh H, Giang và anh Th trèo lên khu vực sàn bê tông cạnh xưởng để kiểm tra và thực hiện việc nâng bồn chứa cồn công nghiệp, sử dụng cho xưởng nhiệt, bồn có kích thước cao 1,5 mét và đường kính 01 mét. Anh H và anh Th được phân công sử dụng ba năng để kéo bồn, còn Giang đo kích thước chân bồn, khi anh H trèo lên trên nắp bồn và thử móc sợi dây xích vào đoạn ống cong thoát hơi của bồn thì anh Th và anh H nghĩ đoạn ống yếu không chịu nổi nên đã nói gia cố hàn thêm sắt vào phần khuyết của đoạn ống cong cho chắc. Sau khi anh Th và anh H thống nhất thì anh H nói anh H biết hàn để anh H làm, Giang nghe vậy đồng ý để anh Th và anh H hàn xì mà không ngăn cản, không báo cáo lãnh đạo công ty biết. Anh Th đã đi cắt hai đoạn sắt hình chữ V (dài từ 5cm đến 10cm) đưa cho anh H, đồng thời anh Th cầm máy hàn điện loại mini đứng bên dưới chân bồn, anh H cầm mũi hàn để tiến hành hàn nối thanh sắt V ngay đầu ống thoát hơi của bồn và nắp bồn, bất ngờ bồn chứa cồn phát nổ làm bung nắp bồn. Anh H ngã rơi xuống sàn bê tông dưới chân bồn và bị thương nặng, Giang và anh Th không bị thương, sau khi tai nạn xảy ra Giang cùng Công ty đã đưa anh H đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai, đến 11 giờ cùng ngày, anh H tử vong.
Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan CSĐT Công an huyện Trảng Bom đã phối hợp cùng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, Th tra Sở lao động - thương binh và xã hội tỉnh Đồng Nai và Đồn Công an KCN H – Sông Mây, tiến hành khám nghiệm hiện trường, đồng thời trưng cầu Phòng Kỹ thuật hình sự (PC09) Công an tỉnh Đồng Nai khám nghiệm tử thi nạn nhân, sau khi khám nghiệm đã bàn giao tử thi cho gia đình mai táng.
Qúa trình khám nghiệm hiện trường như sau:
“ - Tình trạng hiện trường khi chúng tôi có mặt: Đã bị xáo trộn do công tác cấp cứu nạn nhân.
- Nơi tiến hành khám nghiệm hiện trường tại xưởng băng chuyền xử lý nhiệt thuộc công ty TNHH Z – KCN H, huyện Trảng Bom, Đồng Nai, với các hướng tiếp giáp sau:
+ Hướng Đông giáp với khu hành chính.
+ Hướng Tây giáp với đường nội bộ Công ty.
+ Hướng Bắc giáp với đường nội bộ Công ty.
+ Hướng Nam giáp với đường nội bộ Công ty.
Nhà xưởng được thiết kế cột kèo bằng kim loại, mái lợp tôn. Tại vị trí phía Tây Bắc của xưởng băng chuyền xử lý nhiệt là vị trí nhà để khí với kích thước 6mx3m, cao 2,4m. Tại vị trí bên trên nhà để khí ghi nhận như sau:
- Tại vị trí cách tường phía Tây 0,5m, cách tường phía Nam về hướng Bắc 1,3m là vị trí bồn chứa cồn bằng kim loại có đường kính 01m, cao 1,5m, phần đế cao 0,4 m, tại vị trí vòi để cho khí thoát ra ngoài ghi nhận trong tình trạng mở.
- Tại vị trí khu vực phía trên của bồn chứa cồn ghi nhận các khung cột, kèo, mái tôn bị móp méo, biến dạng.
- Tại vị trí xung quanh bồn chứa cồn ghi nhận như sau:
+ 01 máy hàn điện hiệu Hồng Ký có đầu hàn bị vỡ, hư hỏng.
+ 01 nắp bồn chứa cồn bằng kim loại bị móp méo, biến dạng.
+ 01 miếng sắt hình chữ V có dấu vết hàn.
+ Các dấu vết máu của nạn nhân.
+ Bồn chứa cồn có hiện tượng bị nhiệt tác động (do cháy nổ)" Quá trình điều tra xác định: Trần Khắc G có hợp đồng lao động ký ngày 01/09/2015; Phan Văn Th có hợp đồng lao động ký ngày 02/05/2012 và Lê Văn H có hợp đồng học việc ký ngày 01/03/2023, thời hạn 01 tháng (từ ngày 01/3/2023 đến ngày 31/3/2023) công việc xử lý nhiệt. Những công nhân trên đều không được đào tạo qua lớp hàn xì, không có chứng chỉ hàn xì.
Trong quá trình thi công thì lãnh đạo Công ty TNHH Z chỉ yêu cầu hàn thêm chiều cao của chân bồn, không chỉ đạo hay yêu cầu các công nhân sử dụng máy hàn để hàn trên thân bồn chứa cồn. Trước khi thi công, Phan Văn T chưa tổ chức huấn luyện công tác an toàn lao động cho người lao động, chưa đánh giá nguy cơ rủi ro về an toàn lao động, không lập phương án hay xây dựng kế hoạch sửa chữa để đảm bảo an toàn lao động và không kiểm tra, giám sát người lao động thực hiện việc nâng chần bồn chứa cồn công nghiệp. Trần Khắc G mặc dù biết công ty không yêu cầu thực hiện công việc hàn vào thân bồn chứa cồn và anh Lê Văn H chưa được huấn luyện công tác an toàn lao động, chưa được đào tạo và không có chứng chỉ hàn điện nhưng không ngăn chặn kịp thời nguy cơ mất an toàn lao động và cũng không báo cáo người có thẩm quyền mà vẫn tự ý chấp thuận cho anh H sử dụng máy hàn điện hàn nắp bồn công nghiệp.
Tại Văn bản số 92/CV-TTr ngày 16/6/2023 của Th tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai, kết luận như sau:
- Ông Kuo Teng Nung - Tổng Giám đốc Công ty TNHH Z và ông Kuo Cheng Chung - Phó Tổng giám đốc (được ông Nung ủy quyền quản lý, điều hành), là người sử dụng lao động, chịu trách nhiệm trước pháp luật về thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động, có lỗi: “ Chưa tổ chức huấn luyện công tác an toàn, vệ sinh lao động cho ông Lê Văn H (là người lao động làm việc trong thời gian thử việc) nhằm trang bị đủ kiến thức, kỹ năng cần thiết về đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động trong quá trình lao động, phù hợp với vị trí công việc được giao”.
Hành vi này vi phạm khoản 4 Điều 14 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015, Chương III của Nghị định số 44/2016/NĐ-CP ngày 15/5/2016, Nghị định số 140/2018/NĐ-CP ngày 08/10/2018 của Chính phủ. “Chưa tổ chức nhận diện, đánh giá các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại tại nơi làm việc, từ đó đánh giá nguy cơ rủi ro về an toàn, vệ sinh lao động tại doanh nghiệp nhẳm chủ động phòng, ngừa tai nạn lao động”. Hành vi này vi phạm Điều 77 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015, Thông tư số 07/2016/TT-BLĐTBXH ngày 15/5/2016 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
- Phan Văn T - Phó xưởng, phụ trách công tác an toàn, vệ sinh lao động, có nhiệm vụ tham mưu, giúp người sử dụng lao động tổ chức thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động, có lỗi: “Chưa tham mưu, giúp người sử dụng lao động tổ chức huấn luyện công tác an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động trước khi bố trí làm việc; Chưa tham mưu đánh giá nguy cơ rủi ro về an toàn, vệ sinh lao động tại doanh nghiệp; Chưa tham mưu lập phương án hay xây dựng kế hoạch sửa chữa, lắp đặt bồn chứa cồn đảm bảo an toàn lao động; Thiếu kiểm tra, giám sát để người lao động thực hiện công việc không đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động dẫn đến tai nạn chết người”. Như vậy, ông Phan Văn T chưa làm tròn trách nhiệm được giao đối với người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động theo quy định tại Điều 72 Luật An toàn, Vệ sinh lao động năm 2015.
- Trần Khắc G - Trưởng phòng sản xuất, phân công thực hiện công việc sửa chữa bồn, có lỗi: “Trong quá trình tổ chức thực hiện công việc nâng bồn chứa cồn lên cao thêm 02 mét, ông Trần Khắc G chấp thuận cho ông Lê Văn H hàn thêm sắt vào phần khuyết của đoạn ống cong thoát hơi của bồn (ông H không có chứng chỉ về công việc hàn điện, chưa được huấn luyện về công tác an toàn, vệ sinh lao động), khi ông H tiến hành hàn thì bồn chứa cồn phát nổ, gây ra tai nạn cho ông H”. Như vậy, ông Giang chưa làm tròn trách nhiệm của người lao động trong việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc theo quy định tại Điều 17 Luật An toàn, Vệ sinh lao động năm 2015, mục 3.4.2 QCVN 3:2011/BLĐTBXH Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về an toàn lao động đối với máy hàn điện và công việc hàn điện.
- Ông Lê Văn H - người bị hại, có lỗi: “Ông Lê Văn H không có chứng chỉ về công việc hàn điện, chưa được huấn luyện về công tác an toàn, vệ sinh lao động (nhóm 3 - công việc hàn điện) nhưng không từ chối khi được giao làm công việc hàn điện, mà vẫn tiến hành thực hiện hàn thêm sắt vào phần khuyết của đoạn ống cong thoát hơi của bồn chứa cồn, dẫn đến bồn phát nổ, gây ra tai nạn cho bản thân”. Hành vi của ông H vi phạm mục 3.4.2 QCVN 3:2011/BLĐTBXH Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về an toàn lao động đối với máy hàn điện và công việc hàn điện.
Tại bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 657/KL-KTHS ngày 05/4/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận như sau: “1. Các kết quả chính: Xây sát, rách da mắt-má phải. Xây sát, rách da mắt- má trái. Gãy xương đòn, xương sườn số 1 bên phải. Xây sát da tay phải mặt sau- ngoài, gãy hai xương cẳng tay phải. Xây sát, rách da cơ cẳng chân hai bên, gãy phức tạp hai xương cẳng chân hai bên. Rách tụ máu rải rác hai phổi mặt trước. Rạn gan thùy phải mặt dưới và rách gan phần rốn gan.
2. Nguyên nhân tử vong: Đa chấn thương. Chấn thương ngực – bụng kín, gãy xương đòn, xương sườn, dập phổi, vỡ gan. Gãy hai xương cẳng tay phải, gãy phức tạp hai xương sườn, dập phổi, vỡ gan. Gãy hai xương cẳng tay phải, gãy phức tạp hai xương cẳng chân hai bên ”.
Tại bản kết luận giám định số: 3668/KL-KTHS ngày 29/6/2023 của Phân viện khoa học hình sự tại TP. Hồ Chí Minh kết luận như sau:
“ Nguyên nhân cháy, nổ bồn chứa cồn công nghiệp là do lượng hơi cồn bên trong bồn chứa đạt tới giới hạn nồng độ nguy hiểm cháy – nổ khi gặp các tia lửa mang nhiệt độ cao hình thành bởi quá trình hàn đã lập tức bốc cháy rất nhanh trong thể tích bồn kín, tạo áp lực nổ lớn phá vỡ kết cấu bồn và gây ra vụ cháy, nổ ”.
Tại cáo trạng số 229/CT-VKS-TB, ngày 07/8/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố các bị cáo Phan Văn T và Trần Khắc G về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo trình bày: Các bị cáo đồng ý với bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom truy tố và không có ý kiến gì khác.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố các bị cáo Phan Văn T và Trần Khắc G phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật hình sự.
Xét về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo: Các bị cáo có nhân thân tốt; Trong quá trình làm việc các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã bồi thường khắc phúc hậu quả cho bị hại và được đại diện hợp pháp của bị hại làm đơn bãi nại cho các bị cáo; Xét thấy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và phạm tội với lỗi vô ý, phạm tội có tính đồng phạm song ở mức độ giản đơn; Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt cho các bị cáo được hưởng án treo thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Về mức hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Đồng và Giang mỗi bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cho các bị cáo.
*Về Xử lý vật chứng: Đối với máy hàn Hồng Ký, màu vàng, nhãn hiệu HK215; Th sắt V05 dài khoảng 05 cm và Bồn chứa cồn công nghiệp hình trụ bằng thép, chiều cao 1,5 mét, chiều ngang 01 mét có nguồn gốc hợp pháp. Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bom đã trả lại cho chủ sở hữu Công ty TNHH Z là phù hợp.
*Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bị hại: Công ty TNHH Z và các bị cáo Phan Văn T, Trần Khắc G đã bồi thường thiệt hại cho gia đình anh Lê Văn H tổng số tiền là 340.000.000 đồng. Gia đình anh H đã cam kết bãi nại không thắc mắc khiếu nại gì về phần dân sự vụ án Đối với bị hại Lê Văn H đã vi phạm mục 3.4.2 QCVN 3:2011/BLĐTBXH Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về an toàn lao động đối với máy hàn điện và công việc hàn điện do anh H đã chết nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Trảng Bom không xử lý.
Đối với hành vi của ông Kuo Teng Nung và ông Kuo Cheng Chung không đủ căn cứ để xử lý hình sự về tội Vi phạm quy định về an toàn lao động, quy định tại Điều 295 Bộ luật Hình sự nên Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bom không xử lý.
Đối với hành vi vi phạm của Công ty TNHH Z thì ngày 13/06/2023 Th tra Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Đồng Nai đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 54/QĐ-XPHC với số tiền 40.000.000 đồng, theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trảng Bom, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại; Bị đơn dân sự không khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Thực tế có cơ sở chứng minh, vào ngày 30/3/2023 tại công ty TNHH Z, địa chỉ: KCN H, xã H 3, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Phan Văn T là người được giao nhiệm vụ làm công tác an toàn, vệ sinh lao động và Trần Khắc G là người được giao nhiệm vụ thực hiện việc nâng cao chân bồn chứa cồn công nghiệp của công ty cao thêm 02 mét. Tuy nhiên, do Đồng và Giang vi phạm quy định về an toàn, vệ sinh lao động đã để cho anh Lê Văn H là người không có chứng chỉ về công việc hàn điện, chưa được huấn luyện về công tác an toàn, vệ sinh lao động sử dụng máy hàn điện hàn thêm sắt vào phần khuyết của đoạn ống cong thoát hơi của bồn chứa cồn, dẫn đến bồn phát nổ làm anh H tử vong.
[3] Hành vi của các bị cáo đã vi phạm quy định tại Điều 72 Luật an toàn vệ sinh lao động, Trần Khắc G đã vi phạm quy định tại Điều 17 Luật an toàn vệ sinh lao động và mục 3.4.2 QCVN 3:2011/BLĐTBXH Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về an toàn lao động đối với máy hàn điện và công việc hàn điện gây hậu quả làm chết người.
Điều 17 và Điều 72 Luật an toàn, vệ sinh lao động quy định:
Điều 17. Trách nhiệm của người lao động trong việc bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc 1. Chấp hành quy định, nội quy, quy trình, yêu cầu về an toàn, vệ sinh lao động của người sử dụng lao động hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành liên quan đến công việc, nhiệm vụ được giao.
2. Tuân thủ pháp luật và nắm vững kiến thức, kỹ năng về các biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc; sử dụng và bảo quản các phương tiện bảo vệ cá nhân đã được trang cấp, các thiết bị an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc trong quá trình thực hiện các công việc, nhiệm vụ được giao.
3. Phải tham gia huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động trước khi sử dụng các máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động.
4. Ngăn chặn nguy cơ trực tiếp gây mất an toàn, vệ sinh lao động, hành vi vi phạm quy định an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc; báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm khi biết tai nạn lao động, sự cố hoặc phát hiện nguy cơ xảy ra sự cố, tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp; chủ động tham gia ứng cứu, khắc phục sự cố, tai nạn lao động theo phương án xử lý sự cố, ứng cứu khẩn cấp hoặc khi có lệnh của người sử dụng lao động hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Điều 72. Bộ phận an toàn, vệ sinh lao động 1. Căn cứ vào quy mô, tính chất lao động, nguy cơ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, điều kiện lao động mà người sử dụng lao động phải bố trí người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động hoặc thành lập bộ phận quản lý công tác an toàn, vệ sinh lao động tại cơ sở.
2. Người làm công tác an toàn, vệ sinh lao động hoặc bộ phận an toàn, vệ sinh lao động có nhiệm vụ tham mưu, giúp người sử dụng lao động tổ chức thực hiện công tác an toàn, vệ sinh lao động tại cơ sở sản xuất, kinh doanh, bao gồm các nội dung chủ yếu sau đây:
a) Xây dựng nội quy, quy trình, biện pháp bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động; phòng, chống cháy, nổ;
b) Xây dựng, đôn đốc việc thực hiện kế hoạch an toàn, vệ sinh lao động hằng năm; đánh giá rủi ro và xây dựng kế hoạch ứng cứu khẩn cấp;
c) Quản lý và theo dõi việc khai báo, kiểm định máy, thiết bị, vật tư, chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động;
d) Tổ chức thực hiện hoạt động thông tin, tuyên truyền, huấn luyện về an toàn, vệ sinh lao động; sơ cứu, cấp cứu, phòng, chống bệnh nghề nghiệp cho người lao động;
đ) Tổ chức tự kiểm tra về an toàn, vệ sinh lao động; điều tra tai nạn lao động, sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động theo quy định của pháp luật;
Từ những cơ sở nêu trên kết luận các bị cáo Phan Văn T và Trần Khắc G phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 của Bộ luật hình sự.
[4] Xét về tính chất mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý an toàn lao động, gây thiệt hại đến tính mạng của người khác. Trong vụ án này các bị cáo có vai trò ngang nhau và phạm tội có tính đồng phạm song ở mức độ giản đơn.
[5] Xét về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Các bị cáo có nhân thân tốt; Thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý; Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đã bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại và được đại diện hợp pháp của bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Gia đình bị cáo Đồng có công với cách mạng và trong vụ án này bị hại Lê Văn H có một phần lỗi là vi phạm mục 3.4.2 QCVN 3:2011/BLĐTBXH Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về an toàn lao động đối với máy hàn điện và công việc hàn điện, cụ thể:
“3.4.2. Yêu cầu đối với công nhân hàn điện;
3.4.2.1. Chỉ những người có chứng chỉ về công việc hàn điện, được huấn luyện về an toàn lao động và được cấp thẻ an toàn mới được phép thực hiện công việc hàn điện”, do anh H đã chết nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Trảng Bom không xử lý.
[6] Về hình phạt: Do các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng và trong thời gian tại ngoại, các bị cáo chấp hành tốt chính sách pháp luật tại địa phương nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 và khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự; Các Điều 2, 3, 4, 5 và 6 của Nghị Quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao: Xét thấy không cần cách ly các bị cáo Phan Văn T và Trần Khắc G ra khỏi đời sống xã hội và cho các bị cáo hưởng án treo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
[7] Về trách nhiệm bồi thường dân sự và xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định nêu trên nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1.Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017); Các điều 2, 3, 4, 5 và 6 của Nghị Quyết 02/2018/NQ- HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao:
- Tuyên bố các bị cáo: Phan Văn T và Trần Khắc G phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”.
+ Xử phạt bị cáo Phan Văn T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án (ngày 28/8/2024).
+ Xử phạt bị cáo Trần Khắc G 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án (ngày 28/8/2024).
Giao các bị cáo Phan Văn T và Trần Khắc G cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai theo dõi, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Ủy ban nhân dân xã B, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai có trách nhiệm thông báo ngay cho Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai để Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội: Buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Bị cáo, đại diện hợp pháp của người bị hại và bị đơn dân sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày. Người có mặt kể từ ngày tuyên án. Người vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án về tội vi phạm quy định an toàn lao động số 236/2024/HS-ST
Số hiệu: | 236/2024/HS-ST |
Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Trảng Bom - Đồng Nai |
Lĩnh vực: | Hình sự |
Ngày ban hành: | 28/08/2024 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về