Bản án về tội trộm cắp tài sản số 30/2022/HS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN M, TỈNH SƠN LA

BẢN ÁN 30/2022/HS-ST NGÀY 27/01/2022 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 27 tháng 01 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh S La; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 30/2022/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2022/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 01 năm 2022 đối với các bị cáo:

Quàng Văn S, sinh 23/6/1994; tại: huyện T, tỉnh S La. Nơi cư trú: bản Nà Hốc, xã B, huyện T, tỉnh S La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: lớp 06/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Quàng Văn T, sinh 1966 và bà Quàng Thị K, sinh năm 1967; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: chưa có án tích hoặc xử lý, xử phạt vi phạm hành chính khác; bị cáo bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 21/10/2021 đến nay; có mặt tại phiên toà.

Lù Văn T, sinh 1990; tại: huyện T, tỉnh S La. Nơi cư trú: bản P, xã B, huyện T, tỉnh S La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ học vấn: lớp 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Lù Văn P, sinh 1957 và bà Cà Thị H, sinh năm 1960; có vợ Quàng Thị X (đã ly hôn), chưa có con; tiền án: Không; tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 18/01/2016 bị Toà án nhân dân huyện Q, tỉnh S La xử phạt 26 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 52 tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; bị cáo bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 21/10/2021 đến nay; có mặt tại phiên toà.

- Người bào chữa cho bị cáo Quàng Văn S: Bà Cầm Kim L là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S La; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Lù Văn T: Ông Lường Duy T là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S La; có mặt.

- Bị hại:

Lò Văn U, sinh 1992, nơi cư trú: bản A, xã C, huyện M, tỉnh S La; vắng mặt.

Quàng Văn H, sinh 1992, nơi cư trú: Tiểu khu 5, thị trấn Ít Ong, huyện M, tỉnh S La; vắng mặt.

Lèo Văn Ch, sinh 1969, nơi cư trú: C, xã C, huyện M, tỉnh S La; vắng mặt.

Lèo Văn H, sinh 1963, nơi cư trú: C, xã C, huyện M, tỉnh S La; vắng mặt.

Đỗ Văn B, sinh 1975, nơi cư trú: bản G, xã M, huyện M, tỉnh S La; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Trương Văn H, sinh 1976; Nơi cư trú: Tiểu khu 2, xã M, huyện M, tỉnh S La; vắng mặt.

Quàng Văn T, sinh 1976; Nơi cư trú: bản P, xã B, huyện T, tỉnh S La; vắng mặt.

Quàng Văn Y, sinh 1976; Nơi cư trú: bản N, xã B, huyện T, tỉnh S La; vắng mặt.

Cà Thị H, sinh 1960; Nơi cư trú: bản P, xã B, huyện T, tỉnh S La; có mặt.

Lù Thị D, sinh 1985; Nơi cư trú: bản P, xã B, huyện T, tỉnh S La; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 02/10/2021 Quàng Văn S nói với Lù Văn T “Không có tiền tiêu sài, nên tao với mày đi tìm xe máy để trộm rồi mang đi bán lấy tiền chia nhau đi”, T đồng ý cùng S điều khiển xe mô tô của gia đình đến khu vực bản T, xã T, quan sát thấy 01 xe mô tô hiệu Honda Wave Biển kiểm soát (BKS) 26B2-X màu đen trắng, bạc của anh Lò Văn U dựng ở lề đường, S bảo “Lấy con xe này đi, chỗ này không có người” T đồng ý, S liền ngồi lên xe thả trôi dốc được một đoạn thì S và T dừng lại, S dùng chiếc kìm gấp (dạng đa năng, mang theo từ trước) vặn mặt nạ nhựa phía đầu xe ra cắt nối dây điện, lắp mặt nạ lại nổ máy điều khiển đi đến khu vực bản Bủng, xã M, T và S dừng lại tháo BKS vứt bỏ rồi tiếp tục điều khiển về bản P, xã B, huyện T, S gặp Cà Thị H (mẹ của T) nói là xe của S và nhất trí bán cho bà H với giá 2.000.000VNĐ, S chia cho T 1.000.000VNĐ.

Phát hiện bị mất tài sản ngày 20/10/2021 anh Lò Văn U đã có đơn trình báo đề nghị cơ quan chức năng điều tra xử lý, xác định người chiếm đoạt tài sản và bắt giữ Quàng Văn S và Lù Văn T, thu giữ vật chứng với S là 01 chiếc tua vít, 01 chiếc kìm và 01 chiếc chìa khoá; thu với T xe mô tô Honda Wave màu trắng, đen, bạc.

Ngày 20/10/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành yêu cầu định giá tài sản và khám nghiệm hiện trường nhưng không thu giữ gì thêm.

Ngày 20/10/2021 Hội đồng định giá tài sản huyện M kết luận định giá tài sản số 29/KLĐGTS: 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu trắng, đen, bạc, số khung RLHHC1258FY213751 có giá trị là 9.000.000VNĐ.

Ngoài lần chiếm đoạt tài sản trên Quàng Văn S và Lù Văn T đều khai nhận trong tháng 9 và 10/2021 cả hai còn tiếp tục cùng nhau thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản như sau:

Lấn thứ nhất: Khoảng 17 giờ ngày 28/9/2021, Quàng Văn S và Lù Văn T đến khu vực bản Thẳm Hon, xã Tạ Bú, huyện M, quan sát thấy 01 xe mô tô hiệu Honda Drem BKS 26B1-X của anh Quàng Văn H để ở đường, S dùng tua vít tháo mặt nạ, đấu nối dây điện nổ máy điều khiển đến khu vực bản Bủng xã M huyện M thì dừng lại tháo yếm xe và BKS vứt đi, rồi điều khiến đến tiểu khu 2 xã M, huyện Màng La bán cho anh Trương Văn H được số tiền 2.200.000VNĐ, T và S chia nhau mỗi người 1.100.000VNĐ.

Lần thứ hai: Khoảng 16 giờ ngày 11/10/2021 Quàng Văn S và Lù Văn T đến khu vực C, xã C, huyện M, quan sát thấy 01 xe mô tô hiệu Honda Wave S BKS 26 L1-X của anh Lèo Văn H để ở đường, S dùng kìm cắt dây điện đấu nối nổ máy điều khiển đi được một đoạn thì dừng lại tháo yếm xe và BKS vứt đi, rồi điều khiến đến bản Nà Hốc, xã B, huyện T bán cho anh Quàng Văn Y được số tiền 2.000.000VNĐ, T và S chia nhau mỗi người 1.000.000VNĐ.

Lần thứ ba: Khoảng 15 giờ ngày 16/10/2021 Quàng Văn S và Lù Văn T đến khu vực C xã C, huyện M, quan sát thấy 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu đỏ, đen BKS 26 H6-X của anh Lèo Văn Ch để ở đường, S dùng kìm mở mặt nạ cắt dây điện đấu nối nổ máy điều khiển đi đến bản Bủng, xã M thì dừng lại tháo yếm xe và BKS vứt đi, rồi điều khiến đến bản P, xã B, huyện T bán cho anh Quàng Văn T được số tiền 4.000.000VNĐ, T và S chia nhau mỗi người 2.000.000VNĐ.

Riêng Quàng Văn S còn khai nhận, ngày 19/10/2021 S đến khu vực bản Giàn, xã M, huyện M, thấy 01 xe mô tô hiệu FANLIM màu nâu BKS 26H7-X để ở đường, S dùng chìa khoá vặn mở nổ máy điều khiển đi đến khu vực bản Hua Bó, xã M, huyện M thị bị phát hiện, S để lại tài sản bỏ chạy.

Thực hiện điều tra mở rộng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M thu giữ vật chứng gồm: 01 xe mô tô hiệu Honda Drem màu nâu, không có BKS, không có yếm, mặt nạ, số khung 225775 đối với Trương Văn H; 01 xe mô tô hiệu Honda Wave S màu đen xám, số khung 065724, không có BKS đối với Quàng Văn Y; 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu đỏ, đen, không có BKS, số khung 197108 đối với Quàng Văn T; 01 xe mô tô hiệu FANLIM màu nâu BKS 26H7-X đối với Đỗ Văn B và 01 xe mô tô hiệu Honda Wave α màu đen, bạc, số khung RLHHC12128Y063054 đối với Cà Thị H.

Ngày 02/12/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành trưng cầu định giá tài sản đối với 04 xe mô tô đồng thời khám nghiệm hiện trường, truy tìm vật chứng (yếm xe, BKS) nhưng không thu giữ gì thêm.

Ngày 02/12/2021 Hội đồng định giá tài sản huyện M kết luận định giá tài sản số 37/KLĐGTS: 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu đỏ, đen, không có BKS, số khung 197108, có giá trị là 4.000.000VNĐ; 01 xe mô tô hiệu Honda Wave S màu đen xám, số khung 065724, không có BKS, có giá trị là 4.000.000VNĐ; 01 xe mô tô hiệu FANLIM màu nâu BKS 26H7-X, có giá trị là 1.000.000VNĐ; 01 xe mô tô hiệu Honda Drem màu nâu, không có BKS, không có yếm, mặt nạ, số khung 225775 có giá trị là 10.000.000VNĐ.

Thực hiện xác minh nguồn gốc phương tiện đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α màu đen, bạc, số khung RLHHC12128Y063054, không là vật chứng trong vụ án khác; xe mô tô Honda Wave α là tài sản của gia đình chị Lù Thị D (chị gái T), việc T và S sử dụng khi chiếm đoạt tài sản gia đình không biết, đề nghị xin nhận lại chiếc xe.

Ngày 06/12/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã quyết định trả lại: 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu đỏ, đen, không có BKS, số khung 197108, cho anh Lèo Văn Ch; 01 xe mô tô hiệu Honda Wave S màu đen xám, số khung 065724, không có BKS, cho anh Lèo Văn H; 01 xe mô tô hiệu FANLIM màu nâu BKS 26H7-X, cho anh Đỗ Văn B; 01 xe mô tô hiệu Honda Drem màu nâu, không có BKS, không có yếm, mặt nạ, số khung 225775, cho anh Quàng Văn H và 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu trắng, đen, không có BKS, số khung 213751, cho anh Lò Văn Uật.

Bản cáo trạng số 03/CT-VKS-ML ngày 10/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo Quàng Văn S và Lù Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đó là do nghiện ma túy, không có tiền chi tiêu nên nảy sinh ý định và thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, các bị cáo xin hưởng sự khoan hồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M luận tội và tranh luận: đề nghị tuyến bố bị cáo Quàng Văn S và Lù Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt Quàng Văn S từ 24 đến 28 tháng tù; và Lù Văn T từ 18 đến 24 tháng tù; không áp dụng phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Chấp nhận cơ quan điều tra đã trả lại 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu đỏ, đen, cho anh Lèo Văn C; 01 xe mô tô hiệu Honda Wave S màu đen xám, cho anh Lèo Văn H; 01 xe mô tô hiệu FANLIM màu nâu BKS 26H7-X, cho anh Đỗ Văn B; 01 xe mô tô hiệu Honda Drem màu nâu, cho anh Quàng Văn H và 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu trắng, đen, cho anh Lò Văn U; trả lại xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave α màu đen, bạc cho chị Lù Thị D. Tịch thu và tiêu huỷ: 01 kìm, 01 tua vít, 01 chìa khoá. Buộc các bị cáo phải bồi hoàn cho người có quyền lợi liên quan (anh Trương Văn H số tiền 2.200.000VNĐ; anh Quàng Văn T số tiền 4.000.000VNĐ; anh Quàng Văn Ysố tiền 2.000.000VNĐ). Áp dung đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, miễn tiền án phí cho các bị cáo.

Người bào chữa cho bị cáo S tranh luận: đồng ý với nội dung cáo trạng và lời khai bị cáo đã trình bày; bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, hiểu biết về đời sống xã hội và pháp luật rất hạn chế; sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tự thú nên đề nghị Hội đồng xét xử xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và cho bị cáo hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về với gia đình, xã hội; đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, miễn tiền án phí cho bị cáo, nội dung khác theo đề nghị.

Người bào chữa cho bị cáo T tranh luận: đồng ý với lời khai bị cáo đã trình bày, tội danh truy tố. Tuy nhiên, sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tự thú, vai trò thứ yếu; bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, hộ nghèo hiểu biết về pháp luật hạn chế nên đề nghị Hội đồng xét xử xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và cho bị cáo hưởng mức hình phạt từ 12 đến 18 tháng để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về với gia đình, xã hội; đề nghị áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, miễn tiền án phí cho bị cáo, nội dung khác theo đề nghị.

Bị cáo S, T bổ sung bào chữa, tranh luận: các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, xin được miễn án phí.

Bị hại Lèo Văn H, Lèo Văn C, Quàng Văn H, Đỗ Văn B và Lò Văn Uđề nghị xét xử vắng mặt, đã nhận được tài sản và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, yêu cầu Quàng Văn S và Lù Văn T, phải bồi hoàn lại tiền mua xe máy (anh Trương Văn H yêu cầu bồi hoàn số tiền 2.200.000VNĐ; anh Quàng Văn T yêu cầu bồi hoàn số tiền 4.000.000VNĐ; anh Quàng Văn Y, yêu cầu bồi hoàn số tiền 2.000.000VNĐ); chị Lù Thi D xin được nhận lại xe mô tô; ngoài ra không ai yêu cầu gì thêm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Cà Thị H ý kiến tranh luận: không yêu cầu Quàng Văn S và Lù Văn T phải bồi hoàn tiền mua xe máy.

Đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa, bị cáo, người có quyền lợi liên quan đối đáp tranh luận: giữ nguyên ý kiến đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người khác không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Đương sự anh Lèo Văn H, Lèo Văn C, Quàng Văn H, Đỗ Văn B, Lò Văn U, Trương Văn H, Quàng Văn T, Quàng Văn Y và Lù Thị D có đơn đề nghị xử vắng mặt; xét thấy lời khai trong hồ sơ đã rõ, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án nên quyết định xét xử vắng mặt; căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về chứng cứ xác đinh hành vi phạm tội: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà là thống nhất, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung kết luận điều tra, cáo trạng, biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai bị hại, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập và phản ánh trong hồ sơ của vụ án, được thẩm tra, xác minh tại phiên toà, xác định: trong thời gian tháng 9 và 10/2021 Quàng Văn S và Lù Văn T đã cùng nhau thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản (xe mô tô) 04 lần bằng cách sử dụng 01 chiếc kìm gấp (dạng đa năng), 01 tua vít, vặn tháo mặt nạ xe mô tô, điều khiển xe trôi dốc, cắt nối dây điện nổ máy điều khiển đi tiêu thụ, cụ thể: Khoảng 17 giờ ngày 28/9/2021, bị cáo S và T đến khu vực bản Thẳm Hon, xã T, huyện M, lấy 01 xe mô tô hiệu Honda Drem BKS 26B1-X của anh Quàng Văn H điều khiển đi bán cho anh Trương Văn H được số tiền 2.200.000VNĐ; đến khoảng 14 giờ 30 phút ngày 02/10/2021 S và T tiếp tục lấy 01 xe mô tô hiệu Honda Wave BKS 26B2-X màu đen trắng, bạc của anh Lò Văn U, bán cho bà Cà Thị H với giá 2.000.000VNĐ. Khoảng 16 giờ ngày 11/10/2021 S và T đến khu vực C, xã C, huyện M, lấy 01 xe mô tô hiệu Honda Wave S BKS 26 L1-X của anh Lèo Văn H bán cho anh Quàng Văn Yđược số tiền 2.000.000VNĐ; đến khoảng 15 giờ ngày 16/10/2021 S và T tiếp tục lấy 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu đỏ, đen BKS 26 H6-X của anh Lèo Văn C, bán cho anh Quàng Văn T được số tiền 4.000.000VNĐ. Ngoài ra ngày 19/10/2021 S một mình đến khu vực bản Giàn, xã M, huyện M, lấy 01 xe mô tô hiệu FANLIM màu nâu BKS 26H7-X của anh Đỗ Văn B.

Theo kết luận định giá tài sản số 29/KLĐGTS, ngày 20/10/2021 và kết luận định giá tài sản số 37/KLĐGTS, ngày 02/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện M kết luận định: 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu trắng, đen, bạc (số khung RLHHC1258FY213751) có giá trị là 9.000.000VNĐ; 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu đỏ, đen, không có BKS, số khung 197108, có giá trị là 4.000.000VNĐ; 01 xe mô tô hiệu Honda Wave S màu đen xám, số khung 065724, không có BKS, có giá trị là 4.000.000VNĐ; 01 xe mô tô hiệu FANLIM màu nâu BKS 26H7-X, có giá trị là 1.000.000VNĐ; 01 xe mô tô hiệu Honda Drem màu nâu, không có BKS, không có yếm, mặt nạ, số khung 225775 có giá trị là 10.000.000VNĐ. Như vậy, bị cáo Quàng Văn S và Lù Văn T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã lợi dụng sự sơ hở trong quản lý tài sản của chủ sở hữu lén lút chiếm đoạt tài sản có tổng trị giá 27.000.000VNĐ, riêng S thực hiện thêm 01 lần có giá trị 1.000.000VNĐ; hành vi đó đã xâm hại quyền sở hữu của người khác về tài sản nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Quàng Văn S và Lù Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; tội phạm và hình phạt được quy định như sau: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng …, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[4] Về tính chất mức độ của hành vi: Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bản thân các bị cáo tuổi còn trẻ, bị cáo T đã được giáo dục rèn luyện bản thân nhưng không thấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện, lao động, làm ăn lương thiện phát triển kinh tế gia đình mà ý thức coi thường kỷ cương xã hội, pháp luật của Nhà nước, ăn chơi đua đòi, nghiện ma tuý, thích hưởng thụ bằng tài sản của người khác; với mục đích có tiền chi tiêu cá nhân, các bị cáo đã cố ý cùng nhau lén lút chiếm đoạt tài sản 04 lần có tổng trị giá là 27.000.000VNĐ. Tuy nhiên, giữa các bị cáo không có sự phân công, không có sự cấu kết chặt chẽ nên chưa được coi là có tổ chức, theo quy định tại các Điều 17, 58 của Bộ luật Hình sự thì các bị cáo là đồng phạm giản đơnvà phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình. Trong đó, Quàng Văn S là người khởi xướng (rủ), chuẩn bị kìm, tua vít, chìa khoá và trực tiếp thực hiện hành vi chiếm đoạt nên giữ vai trò chính trong vụ án; còn Lù Văn T là người tích cực trực tiếp sử dụng xe máy của gia đình, điều khiển chở S tìm, tiếp cận tài sản và mang tiêu thụ tài sản chiếm đoạt. Hành vi phạm tội của các bị cáo là ít nghiêm trọng nhưng tội phạm các bị cáo thực hiện đã hoàn thành, hậu quả xảy ra không những xâm phạm quyền sở hữu, làm thiệt hại về tài sản của anh U, anh H, anh C, anh H, anh B mà còn gây thiệt hại cho người liên quan khác, làm ảnh hưởng đến chính sách về giáo dục người phạm tội của Nhà nước, ảnh hưởng xấu về trật tự an toàn xã hội, trật tự trị an ở địa phương nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật áp dụng là đúng người, đúng tội; tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát luận tội quy kết các bị cáo phạm tội và đề nghị phạt tù đối với các bị cáo là có căn cứ và phù hợp.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sư: các bị cáo thực hiện chiếm đoạt tài sản 04 lần, mỗi lần trên 2.000.000VNĐ là đã phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên”.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sư, nhân thân: Các bị cáo thành khẩn khai báo (khai đầy đủ, đúng sự thật tất cả những gì liên quan đến hành vi phạm tội), ăn năn hối cải (bị cáo luôn thể hiện sự cắn rứt, dày vò lương tâm, chấp hành tốt nội quy, quy định nhà tạm giữ, tạm giam, mong muốn sửa chữa, cải tạo mình thành người tốt); cả hai bị cáo tự thú (khai ra các lần chiếm đoạt tài sản khi chưa bị phát hiện). Do đó, xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo là người dân lao động, dân tộc thiểu số, sống ở vùng sâu, xa, nhận thức pháp luật hạn chế; tuổi bị cáo còn trẻ cần xem xét giúp đỡ bị cáo sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo T có nhân thân xấu; bị cáo S chưa có tiền án, tiền sự nhưng đều là đối tượng nghiện ma túy (phiếu xét nghiệm dương tính (+) với ma túy), chính quyền địa phương xác định các bị cáo không chấp hành quy định của địa phương, không có khả năng tự cải tạo nên cần cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để đảm bảo giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt, có ích cho xã hội và cũng nhằm răn đe, phòng ngừa, giáo dục cho hành vi tương tự.

[7] Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, biên bản xác minh tài sản, lời khai của bị cáo tại phiên tòa xác định: bị cáo không có tài sản giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung, phạt tiền đối với các bị cáo.

[8] Về biện pháp ngăn chặn: áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam các bị cáo để bảo đảm việc thi hành án; các bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/10/2021 được xem xét khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

[9] Đối với Trương Văn H, Quàng Văn T, Quàng Văn Y, Cà Thị H là những người trực tiếp mua tài sản do bị cáo chiếm đoạt mà có nhưng ngay tình không biết rõ về nguồn gốc nên không có cơ sở xử lý về hình sự theo vụ án.

[10] Vật chứng của vụ án: 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu đỏ, đen, số khung 197108 là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Lèo Văn C; 01 xe mô tô hiệu Honda Wave S màu đen xám, số khung 065724, là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Lèo Văn H; 01 xe mô tô hiệu FANLIM màu nâu BKS 26H7-X, cho anh Đỗ Văn B; 01 xe mô tô hiệu Honda Drem màu nâu, số khung 225775, là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Quàng Văn H và 01 xe mô tô hiệu Honda Wave màu trắng, đen, số khung 213751, là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Lò Văn U. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã trả lại chủ sở hữu là đúng thẩm quyền, có căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

01 chiếc kìm (dạng đa năng), 01 tua vít và 01 chìa khoá là công cụ phương tiện bị cáo S sử dụng để chiếm đoạt tài sản vật chứng không có giá trị nên tịch thu và tiêu huỷ, căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

01 xe mô tô hiệu Honda Wave α, số khung RLHHC12128Y063054 là tài sản thuộc quyền sở hữu của chị Lù Thị D; chị D không biết việc bị cáo T sử dụng đi phạm tội nên cần trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[11] Về trách nhiệm dân sự:

anh Lò Văn U, Quàng Văn H, Lèo Văn C, Lèo Văn H và anh Đỗ Văn B đã nhận lại tài sản, Cà Thị H không yêu cầu Quàng Văn S và Lù Văn T bồi thường gì thêm, không yêu cầu ghi nhận việc nhận lại tài sản nên không có cơ sở giải quyết theo vụ án.

Xét yều cầu bồi hoàn của anh Trương Văn H, Quàng Văn T, Quàng Văn Y, thấy: Quàng Văn S và Lù Văn T nói dối về nguồn gốc tài sản (xe mô tô) để giao dịch mua bán tài sản và nhận tiền (chia phần bằng nhau) là giao dịch dân sự vô hiệu do bị lừa dối, cơ quan chức năng đã thu giữ tài sản trả lại cho chủ sở hữu nên anh Huy, anh Tiệm, anh Yêu yêu cầu Quàng Văn S và Lù Văn T phải bồi hoàn là có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu buộc Quàng Văn S phải bồi hoàn tổng số tiền 4.100.000VNĐ (trong đó: bồi hoàn cho anh H số tiền 1.100.000VNĐ, bồi hoàn cho anh T số tiền 2.000.000VNĐ và bồi hoàn cho anh Y số tiền 1.000.000VNĐ) và buộc Lù Văn T phải bồi hoàn tổng số tiền 4.100.000VNĐ (trong đó: bồi hoàn cho anh H số tiền 1.100.000VNĐ, bồi hoàn cho anh T số tiền 2.000.000VNĐ và bồi hoàn cho anh Y số tiền 1.000.000VNĐ). Căn cứ Điều 122, 127, 131 Bộ luật Dân sự.

[12] Về án phí: Tài liệu trong hồ sơ xác định các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo xin miễn nộp tiền án phí; theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 58; điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với cả hai bị cáo Quàng Văn S và Lù Văn T.

1. Tuyên bố: Bị cáo Quàng Văn S và Lù Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Xử phạt:

Bị cáo Quàng Văn S 26 (Hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, giam (21/10/2021).

Bị cáo Lù Văn T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, giam (21/10/2021). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với đối với cả hai bị cáo.

3. Về vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu và tiêu huỷ: 01 chiếc kìm (dạng đa năng), 01 tua vít và 01 chìa khoá.

Trả lại 01 xe mô tô hiệu Honda Wave α, số khung RLHHC12128Y063054 cho chị Lù Thị D (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/01/2022 giữa Công an huyện M và Chi cục Thi hành án dân sự huyện M, tỉnh S La).

4. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 122, 127, 131 Bộ luật Dân sự, buộc:

Quàng Văn S phải bồi hoàn tổng số tiền 4.100.000VNĐ (trong đó: bồi hoàn cho anh Trương Văn H số tiền 1.100.000VNĐ, bồi hoàn cho anh Quàng Văn T số tiền 2.000.000VNĐ và bồi hoàn cho anh Quàng Văn Ysố tiền 1.000.000VNĐ).

Lù Văn T phải bồi hoàn tổng số tiền 4.100.000VNĐ (trong đó: bồi hoàn cho anh Trương Văn H số tiền 1.100.000VNĐ, bồi hoàn cho anh Quàng Văn T số tiền 2.000.000VNĐ và bồi hoàn cho anh Quàng Văn Ysố tiền 1.000.000VNĐ).

5. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo S và bị cáo T.

6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (27/01/2022); bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo qui định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự;Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

27
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tội trộm cắp tài sản số 30/2022/HS-ST

Số hiệu:30/2022/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mai Sơn - Sơn La
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 27/01/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;