TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
BẢN ÁN XX/2024/HS-PT NGÀY 17/09/2024 VỀ TỘI TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 30/2024/TLPT-HS ngày 20 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Đức H do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 61/2024/HS-ST ngày 16 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
* Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Đức H (tên gọi khác: Không); sinh ngày 01 tháng 8 năm 1999 tại tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn S, xã N, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Ngọc B (đã chết) và bà Nguyễn Thị V, V1: Đinh Thùy N và có 01 con (sinh năm 2018);Tiền án; Tiền sự: Không ;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/9/2023 đến nay. Hiện nay đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
Ngoài ra trong vụ án những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không liên quan đến kháng cáo, Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 10 phút ngày 19/9/2023, tại khu vực tổ A, phường P, thành phố Bắc Kạn, Tổ công tác của Cục C1 giao thông Bộ C2 và Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố Bắc Kạn bắt quả tang Nguyễn Đức H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Kết quả kiểm tra đã phát hiện và tạm giữ: Tại túi quần đằng trước H đang mặc 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong có 01 (một) gói được gói bằng loại giấy vệ sinh màu trắng, bên trong có chứa chất trắng dạng cục; 01 (một) xe môtô nhãn hiệu HONDA mang biển kiểm soát 97B2-135.26 cùng chìa khóa xe. Sau khi lập biên bản, tổ công tác đã bàn giao Nguyễn Đức H cùng đồ vật, tài liệu liên quan cho Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Kạn xử lý theo quy định. Tại Cơ quan CSĐT, Nguyễn Đức H đã tự khai nhận trong ngày 17/9/2023 và 19/9/2023 H đã thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý 02 lần, cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 11 giờ ngày 17/9/2023, H đang chơi ở thị trấn Đ, huyện C thì nảy sinh ý định sử dụng ma túy nên đã gọi qua ứng dụng Messenger cho Hà Cát T (sinh năm 1992, trú tại thôn N, xã N, huyện C) để hỏi mua ma túy tổng hợp loại MDMA (thường gọi là “kẹo”) và K (thường gọi là “ke”) và T đồng ý bán, H chuyển số tiền 1.800.000 đồng từ số tài khoản 0000098xxxx Ngân hàng thương mại cổ phần T2 (T3) của H đến số tài khoản 19928985xxxx Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 (M2) của Hà Cát T. Sau đó H bắt xe ôtô khách đi đến nhà vợ của Hà Cát T tại thôn N, xã N, huyện C để nhận ma túy. Tại đây, H đã nhận của T 01 (một) viên ma túy tổng hợp MDMA và 01 (một) túi ma tuý tổng hợp loại Ketamine. Sau đó H đi về nhà tại thôn S, xã N, huyện C để tắm, tiếp theo mang theo số ma túy vừa mua được và bắt xe ôtô khách đi đến thành phố Bắc Kạn để tìm nơi sử dụng, khi đang chờ xe thì gặp Hoàng Văn Y nên H bảo với Y là đi thành phố Bắc Kạn chơi, sau đó Y bảo với H lúc nữa cũng lên thành phố, có gì thì gọi. Khoảng 14 giờ ngày 17/9/2023, H đến quán K2 thuộc tổ A, phường S, thành phố Bắc Kạn của Phạm Quang K1 thuê anh Lê Văn H1 làm quản lý tại quán. Tại đây H đặt anh H1 01 (một) phòng hát và gọi 01 (một) nhân viên nữ phục vụ. Anh H1 đã chỉ cho H vào phòng hát số 2 và gọi chị Tẩn Thị T1 là nhân viên vào phục vụ. Tại phòng hát, H đã gọi cho Hoàng Văn Y bảo Y đến quán K2 để hát. Khoảng 15 phút sau, Y đến và cả 2 cùng nói chuyện, một lúc sau H lấy 01 (một) viên ma túy tổng hợp MDMA ra và chia làm 02 (hai) phần, một phần H tự sử dụng, phần còn lại H đưa cho Y sử dụng. Sau khi sử dụng xong, H đã bảo Yên cho mượn 01 (một) tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng và giấy phép lái xe môtô của Y mà không nói để làm gì. Sau khi nhận tờ tiền và giấy phép lái xe, H cuốn tờ tiền thành ống hình trụ tròn mục đích để tạo thành ống hút và lấy từ đằng sau ốp điện thoại nhãn hiệu IPHONE XS MAX của H 01 (một) tờ tiền nước ngoài có mệnh giá 02 (hai) đô la Mỹ để trên bản rồi đồ một phần ma túy loại Ketamine trong túi zip màu trắng lên tờ tiền, phần còn lại trong túi zip H cất vào túi quần bên trái đang mặc. Sau đó, H lấy bật lửa để ở trên bản để hơ tờ tiền làm nóng ma túy rồi dùng giấy phép lái xe mô tô của Y để đảo, trộn và cán miết mịn ma túy. Lúc này, H bảo Tẩn Thị T1 là nhân viên phục vụ cầm chiếc điện thoại IPHONE 6S của Hoàng Văn Y để trên bản soi cho H, tiếp đó H kẻ ma túy thành các đường thẳng và sử dụng bằng cách dùng ống hút hít trực tiếp vào cơ thể, sau khi sử dụng xong H đưa cho Y và T1 sử dụng cho đến khi hết. Sau đó H cho nốt số ma túy còn lại trong túi zip màu trắng đang cất giấu bên trong túi quần lên tờ tiền nước ngoài rồi tiếp tục hơ nóng, đảo, trộn và cán miết mịn và kẻ thành các đường thẳng để sử dụng, sau đó đưa cho Y, T1 sử dụng đến hết. Sau khi sử dụng ma tuý xong H và Y đi cùng nhau đi về.
Lần thứ hai: Khoảng 14 giờ ngày 19/9/2023, H và Y mỗi người tự điều khiển 01 (một) xe môtô đi từ thị trấn Đ, huyện C về hướng xã N, huyện C. Trên đường đi, H nảy sinh ý định sử dụng trái phép chất ma túy nên sử dụng ứng dụng M gọi cho Hà Cát T để hỏi mua 01 (một) chỉ ma túy tổng hợp loại Ketamine và 01 (một) viên ma túy tổng hợp MDMA và T đồng ý bán. Sau đó, H chuyển số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) từ số tài khoản 0000098xxxx Ngân hàng thương mại cổ phần T2 (T3) của H đến số tài khoản 19928985xxxx Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 (M2) của Hà Cát T, trong đó có 1.800.000 đồng là tiền mua ma túy, 400.000 đồng là tiền H trả nợ cho T, 2.800.000 đồng là tiền H đổi lấy tiền mặt với T. Sau đó, H đưa Y đến nhà cậu của H tại thôn S, xã N và bảo Y ở đó đợi, còn H một mình điều khiển xe môtô biển kiểm soát 97B2- 135.26 đi đến nhà vợ của Hà Cát T tại thôn N, xã N, huyện C mua ma túy. Tại đây T đưa cho H 01 (một) túi zip màu trắng bên trong có chứa ma túy tổng hợp loại Ketamine và 01 (một) viên ma túy tổng hợp MDMA đồng thời T cũng đưa lại cho H 2.800.000 đồng là tiền H đổi ra tiền mặt. Sau khi mua được ma túy, H cất giấu trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng và cất vào trong cốp xe môtô biển kiểm soát 97B2-135.26 rồi điều khiển xe đi đón Y. Sau khi đón Y, H không nói gì với Y về việc đã mua ma túy và sẽ đi sử dụng mà rủ Y đi đến thành phố Bắc Kạn chơi. H điều khiển xe chờ Y đến thành phố Bắc Kạn chơi, đến 18 giờ cùng ngày, H và Y đến Quán K2 thuộc tổ A, phường S, thành phố Bắc Kạn, tại đây H đặt 01 (một) phòng hát và gọi 02 (hai) nhân viên nữ phục vụ, H được Lê Văn H1 là quản lý quán chỉ vào phòng số 2 và bảo 2 nhân viên vào phục vụ, tuy nhiên H chỉ chọn 01 người có tên gọi là Q. Sau khi vào phòng hát một lúc, H lấy bao thuốc lá Thăng Long màu vàng bên trong có chứa ma túy mà H đã lấy từ trong cốp xe và mang vào theo vào quán, sau đó H lấy ra 01 (một) viên ma túy tổng hợp MDMA rồi chia làm 02 (hai) phần, 01 (một) phần H sử dụng, phần còn lại đưa cho Y sử dụng. Một lúc sau H lấy ra từ trong túi quần đằng trước bên phải đang mặc ra 01 (một) tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng (mười nghìn đồng) rồi cuốn thành ống hình trụ tròn làm dụng cụ để sử dụng ma túy. Tiếp đó, H lấy từ đằng sau ốp điện thoại nhãn hiệu IPHONE XS MAX của H 01 (một) tờ tiền nước ngoài có mệnh giá 02 (hai) đô la Mỹ ra và để trên bàn, H tiếp tục lấy từ trong túi quần đằng trước bên phải đang mặc 01 (một) túi zip màu trắng, bên trong túi zip có chứa ma túy tổng hợp loại Ketamine rồi đồ một phần ma túy trong túi zip lên tờ tiền nước ngoài, phần còn lại trong túi zip H cất trong túi quần bên trái đang mặc. H sử dụng bật lửa để trên bàn hơ tờ tiền làm nóng ma túy rồi lấy chiếc thẻ nhựa cứng (loại thẻ chứa sim điện thoại V2) trong túi ra để đảo, trộn và cán miết mịn ma túy (thường gọi là xào ke), H tự bật đèn Flash điện thoại IPHONE 6S để soi khi “xào ke” và kẻ ma túy thành các đường thẳng để bản thân sử dụng bằng hình thức hít trực tiếp qua mũi vào cơ thể, H hít được 01 (một) đường rồi đưa cho Y và nữ nhân viên tên Q lần lượt sử dụng bằng cách dùng ống hút hít vào mũi. Sau khi sử dụng hết số ma túy trên tờ tiền H đi ra ngoài quầy lễ tân gọi thêm 01 (một) nhân viên nữ nữa là Hờ Thị M1 vào phục vụ, sau đó H xuống bếp của quán lấy 01 (một) đĩa sứ hình bầu dục màu trắng mang vào phòng hát. H đặt chiếc đĩa sứ trên bàn rồi lấy từ trong túi quần đang mặc 01 (một) túi zip màu trắng, bên trong có chứa ma túy tổng hợp loại Ketamine và đổ hết số ma túy trong túi zip vào đĩa rồi sử dụng bật lửa để hơ đáy đĩa làm nóng số ma túy bên trên và sử dụng thẻ nhựa cứng để đảo, trộn và cán miết mịn ma túy trên đĩa sứ (xào ke) chia thành các đường thẳng. Sau khi “xào ke” xong H sử dụng ống hút được làm bằng tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng trước đó để hít ma tuý vào mũi, sau khi sử dụng xong H đưa cho Y, Q và M1 lần lượt sử dụng bằng cách sử dụng ống hút hít vào mũi. Sau khi sử dụng xong, thấy trên đĩa sứ còn lại một ít ma túy nên H cho số ma túy này vào 01 (một) tờ giấy loại giấy vệ sinh màu trắng để gói lại, rồi cho vào trong túi nilon màu trắng và cất giấu trong túi quần phía trước bên phải đang mặc.
Sau khi sử dụng ma túy xong, H thanh toán tiền phòng hát và điều khiển xe môtô biển kiểm soát 97B2-135.26 chờ Y đi về. Khi đi đến tổ A, phường P, thành phố Bắc Kạn thì bị tổ công tác của Cục C1 Bộ C2 và Đội Cảnh sát giao thông Công an thành phố Bắc Kạn dừng xe để kiểm tra. Khi đó Y ngồi ở phía sau xe do hoảng sợ nên đã bỏ chạy, còn H bị tổ công tác kiểm tra, phát hiện việc cất giấu ma túy trên người.
Ngày 19/9/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Kạn đã tiến hành khám xét khẩn cấp tại quán K2 thuộc tổ A, phường S, thành phố Bắc Kạn. Kết quả phát hiện, thu giữ những đồ vật liên quan đến việc sử dụng trái phép chất ma túy gồm: 01 (một) chiếc thẻ nhựa cứng loại thẻ chứa sim điện thoại, 01 (một) đĩa sứ hình bầu dục màu trắng đáy đĩa có vết cháy đen, 01 (một) tờ tiền giấy loại tiền nước ngoài mệnh giá 02 (hai) đô la Mỹ.
Tiến hành xét nghiệm ma túy đối với Nguyễn Đức H, Hoàng Văn Y, Hờ Thị M1, Tẩn Thị H2. Kết quả xét nghiệm mẫu nước tiểu của Nguyễn Đức H, Hoàng Văn Y, Tẩn Thị H2 đều dương tính với chất ma túy, mẫu nước tiểu của Hờ Thị M1 âm tính với chất ma túy.
Ngày 20/9/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Kạn tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng số tinh thể màu trắng thu giữ của Nguyễn Đức H, kết quả có khối lượng 0,22g (không phẩy hai mươi hai gam). Sau khi cân niêm phong vào phong bì M1 gửi giám định, giấy gói, bao bì cũ niêm phong vào phong bì M2 bảo quản theo quy định.
Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Kạn tiến hành khám xét tại nơi ở của Hà Cát T tại thôn N và thôn B Tết, xã N, huyện C. Kết quả khám xét không thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến ma túy.
Tại Kết luận giám định hóa pháp 1321 ngày 05/10/2023 của V3 kết luận: Tìm thấy các chất ma tuý Methamphetamin (MA), MDA, MDMA, Ketamine, N1 trong mẫu máu của Nguyễn Đức H, Hoàng Văn Y. Không tìm thấy các chất ma túy trong mẫu máu của Hờ Thị M1, Tẩn Thị H2.
Tại Kết luận giám định số 279/KL-KTHS ngày 28/9/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng trong phong bì M1 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng 0,22g (không phẩy hai mươi hai gam). Sau giám định, mẫu chất còn lại được niêm phong trong phong bì T168 hoàn lại cơ quan trưng cầu.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 61/2024/HS-ST ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 07 (bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam ngày 19/9/2023.
Ngoài ra bản án còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 22/7/2024, bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khẳng định việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh, hình phạt như vậy là đúng, không oan. Tại cấp phúc thẩm gia đình bị cáo cung cấp một giấy chứng nhận Huân chương kháng chiến hạng nhất của ông Ngô Chí C và có xác nhận là ông cậu của bị cáo; một đơn xác nhận của Công an xã việc bị cáo lần đầu phạm tội và thời gian trước khi phạm tội tại địa phương không có vi phạm gì, chấp hành tốt quy định nơi cư trú; Một đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình hiện nay bị cáo có mẹ già và một con còn nhỏ, hoàn cảnh gia đình khó khăn có chính quyền địa phương đóng dấu xác nhận và bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo nhận thức được hành vi sai trái nên đã tác động người nhà nộp số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí theo quyết định của Bản án sơ thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn phát biểu quan điểm: Do bị cáo cung cấp nhiều tình tiết giảm nhẹ mới tại cấp phúc thẩm. Vụ án sơ thẩm xét xử theo bị cáo tổ chức sử dụng ma túy hai lần theo nội dung lời tự thú của bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn của bị cáo, do vậy có căn cứ chấp nhận nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự sửa bản án sơ thẩm. Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điểm r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H từ 5 năm đến 5 năm 6 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo đảm bảo về chủ thể và thời hạn theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, nên được Hội đồng xét xử xem xét theo quy định.
[2]. Về nội dung vụ án: Căn cứ vào lời khai của bị cáo và các chứng cứ khác có trong hồ sơ đủ cơ sở xác định: Trong các ngày 17/9/2023 và ngày 19/9/2023 bị cáo Nguyễn Đức H đã 02 lần có hành vi cung cấp chất ma túy, chuẩn bị dụng cụ để sử dụng ma túy tại quán K2 thuộc tổ A, phường S, thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn, cụ thể:
Ngày 17/9/2023, Nguyễn Đức H tổ chức cho Hoàng Văn Y, Tẩn Thị T1 sử dụng trái phép chất ma túy tổng hợp loại MDMA và Ketamine.
Ngày 19/9/2023, Nguyễn Đức H tổ chức cho Hoàng Văn Y, Hờ Thị M1 và nữ nhân viên tên Q sử dụng trái phép chất ma túy tổng hợp loại MDMA và Ketamine.
Với hành vi nêu trên Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Mức hình phạt 07 (B1) năm tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra.
[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo trước khi phạm tội có nhân thân tốt, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51/BLHS; trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm gia đình bị cáo cung cấp Huân chương kháng chiến hạng nhất của ông Ngô Chí C và có xác nhận là ông cậu của bị cáo; một đơn xác nhận của Công an xã việc bị cáo lần đầu phạm tội và thời gian trước khi phạm tội tại địa phương không có vi phạm gì, chấp hành tốt quy định nơi cư trú; Một đơn xác nhận hoàn cảnh gia đình hiện nay bị cáo còn có mẹ đơn thân và một con còn nhỏ, hoàn cảnh gia đình khó khăn có chính quyền địa phương xác nhận và bị cáo tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo nhận thức được hành vi sai trái nên đã tác động người nhà nộp số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí theo quyết định của Bản án sơ thẩm, Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới được Hội đồng xét xử xem xét áp dụng thêm tại khoản 2 Điều 51 để làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét thấy, bị cáo được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r, s khoản 1 và nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên có căn cứ áp dụng Điều 54/Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt theo đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn là có căn cứ, việc giảm nhẹ hình phạt thể hiện sự khoan hồng của Nhà nước và pháp luật và tạo điều kiện để bị cáo sớm được trở về địa phương sinh sống và lao động trở thành công dân có ích. Do đó, kháng cáo của bị cáo được HĐXX chấp nhận.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ, phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
[5] Về án phí: Kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức H. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 61/2024/HS-ST ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Kạn, tỉnh Bắc Kạn.
1. Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; Điều 38; Điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 5 (N2) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (19/9/2023).
2. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Bị cáo Nguyễn Đức H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Bản án về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy số XX/2024/HS-PT
| Số hiệu: | XX/2024/HS-PT |
| Cấp xét xử: | Phúc thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Bắc Kạn |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 17/09/2024 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về