Bản án về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy số 42/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BT, TỈNH THANH HÓA

BẢN ÁN 42/2024/HS-ST NGÀY 24/07/2024 VỀ TỘI TỔ CHỨC SỬ DỤNG TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 24 tháng 07 năm 2024, tại trụ Tòa án nhân dân huyện BT, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 07 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 07 năm 2024;

Đối với các bị cáo

1. Họ và tên: Hà VănT; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày: 16/9/1995; tại xã KT, huyện BT, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn Hiềng, xã KT, huyện BT, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Hà Văn N và bà Lục Thị S ; Gia đình bị cáo có hai người con, bị cáo là con đầu. Có vợ là Ngân Thị Biến, có 02 người con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2017. Tiền sự: Không:

Tiền án: Ngày 20/05/2021 bị Tòa án nhân dân huyện BT, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 36 (Ba mươi sáu) tháng tù về tội “ tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 19/6/2023 chấp hành xong hình phạt.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/03/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện BT đến nay.

2. Họ và tên: Hà Văn S; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày: 11/01/1997; tại xã KT, huyện BT, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn Hiềng, xã KT, huyện BT, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 7/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Hà Văn T và bà Lữ Thị Đ ; Gia đình bị cáo có hai người con, bị cáo là con đầu. Bị cáo chưa có vợ con. Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/03/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện BT đến nay.

3. Họ và tên: Hà Văn S; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày: 28/08/1995; tại xã KT, huyện BT, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú: Thôn Buốc, xã KT, huyện BT, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Hà Văn C và bà Vi Thị T ; Gia đình bị cáo có hai người con, bị cáo là con thứ hai. Có vợ là Vi Thị Nương, có 01 con sinh năm 2016.Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 12/11/2020 bị Tòa án nhân dân huyện BT, tỉnh Thanh Hóa ra quyết định xử lý hành chính đưa vào cơ sơ cai nghiện bắt buộc 18 tháng, chấp hành xong ngày 18/4/2022.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/03/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện BT đến nay.

Người làm chứng: Anh Hà VănT, sinh năm 1972 Nơi cư trú: Thôn Hiềng, xã KT, huyện BT, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu cóT hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 13/3/2024 do có nhu cầu sử dụng ma túy nên S vàT góp tiền mỗi người 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) để tìm mua ma túy sử dụng.

S dùng điện thoại của mình đăng nhập tài khoản Messenger “Hà Văn S” gọi cho tài khoản Messenger “Phạm Anh Tuấn” để hỏi mua hồng phiến. Theo S khai thì Tuấn hẹn S sáng ngày 14/3/2024 đến bãi đá trên đường vào bản Xầy, xã Trung Hạ, huyện Quan Sơn để lấy hồng phiến. Sáng ngày 14/302024 S đi một mình đến điểm hẹn thì gặp người đàn ông không quen biết đưa cho S một gói nilon màu xanh bênT có 05 viên hồng phiến và S đưa cho người đàn ông lạ 400.000đ (Bốn trăm nghìn đồng).

Mua được hồng phiến S vàT quay về nhà S ở thôn Hiềng, xã KT huyện BT. Tại nhà S, bị cáoT bảo S đi tìm chai nhựa và dụng cụ để sử dụng ma túy. S tìm được một chai nhựa dưới gầm tủ có sẵn lỗ tròn trên thân chai đưa choT.T tìm một ống tre cắm vào thân chai, S lấy giấy bạcT bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long củaT.T đưa gói hồng phiến cho S thì S mở ra lấy 01 viên hồng phiến đặt lên giấy bạc rồi dùng bật lửa gas đốt viên hồng phiến choT sử dụng.

Trọng sử dụng xong thì đưa bộ dụng cụ cho bị cáo S, S lấy 01 viên hồng phiến bỏ lên giấy bạc đốt và sử dụng sau đó đưa bộ dụng cụ cho bị cáo S, S lấy 01 viên hồng phiến bỏ lên giấy bạc đốt và sử dụng. Còn hai viên hồng phiến còn lại S tiếp tục bỏ lên giấy bạc đốt cho cả ba người lần lượt S, S vàT sử dụng. Khi đang sử dụng thìT thấy bố của S là Hà VănT đi từ phòng ngủ ra thì gọi ôngT vào cùng sử dụng. ÔngT đi lại ngồi gần bị cáoT thì bị cáoT đưa bộ dụng cụ sử dụng ma túy cho ôngT còn S lấy bật lửa gas đốt phần hồng phiến còn lại trên giấy bạc cho ôngT sử dụng hết. Sau khi sử dụng ma túy xong S đi về nhà trước cònT ở lại về sau.

Khoảng 10 giờ 30 phút cùng ngày thì S vàT đang ngồi tại vị trí sử dụng ma túy thì bị bắt quả tang và thu giữ bộ dụng cụ sử dụng ma túy tại nhà.

Tại Bản kết luận giám định số: 1094/KL-KTHS ngày 20/03/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận:

-Tìm thấy chất ma túy, loại methamphetamine bám dínhT ống tre của phong bì niêm phong gửi giám định.

-Tìm thấy chất ma túy, loại methamphetamine bênT chất bám dính màu đen bám dính trên mảnh giấy bạc (dạng giấy bạc bao thuốc lá) của phong bì niêm phong gửi giám định.

Tại bản kết luận số: 1128/KL-KTHS ngày 20/3/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận:

-Tìm thấy chất ma túy, loại methamphetamineT mẫu nước tiểu ghi thu của Hà Văn S, Hà VănT, Hà Văn S và Hà VănT gửi giám định.

Vật chứng vụ án: 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành. Phía trước phong bì có ghi “phong bì niêm phong mẫu vật vụ: BT TC 201 ngày 15/3/2024, mặt sau trên các mép dán kín có các chữ ký ghi rõ họ tên: Lê Minh Tiến, Trần Thị Thúy Hằng, Lê Mạnh Hùng và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa. BênT chứa toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì và 01(một) vỏ chai nhựa màu trắng không có nắp, trên thân chai có gắn một(một) ống tre; 01 (một) mảnh giấy bạc dạng giấy bạc bao thuốc lá.

01 bật lử gas màu xanh, đã qua sử dụng.

Quá trình điều tra các bị cáo thành khẩn khai báo.

Tại bản cáo trạng số: 41/CT-VKS-BT ngày 05/7/2024, Viện Kiểm sát nhân dân huyện BT, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố các bị cáo Hà Văn S, Hà VănT và Hà Văn S về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của BLHS.

Tại phiên toà đại diện VKSND huyện BT giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; Điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đề nghị HĐXX tuyên bố các bị cáo Hà Văn S, Hà VănT và Hà Văn S về hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” Đề nghị xử phạt đối với Hà Văn S từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù Đề nghị xử phạt đối với Hà VănT từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù Đề nghị xử phạt đối với Hà Văn S từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 47 cuả BLHS và điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS. Đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng là bộ công cụ sử dụng ma túy.

Về án phí:T, S thuộc hộ nghèo Đề nghị HĐXX căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự cho các bị cáoT và S. Đối với bị cáo S phải chịu án phí hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLHS.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệuT hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện các hành vi tố tụng và ban hành các Quyết định tố tụng đúng, đủ, chính xác về thẩm quyền, trình tự tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về Tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của những người làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác cóT hồ sơ vụ án. Có căn cứ xác định: Ngày 14/3/2024 các bị cáo chuẩn bị công cụ sử dụng ma túy cho Hà VănT, Hà Văn S, Hà Văn S và Hà VănT cùng sử dụng trái phép chất ma túy. Vì vậy Viện kiểm sát nhân dân huyện BT đã truy tố các bị cáo Hà VănT, Hà Văn S và Hà Văn S theo cáo trạng số: 41/CT-VKS-BT ngày 05 tháng 07 năm 2024 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Tính chất vụ án và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm nghiêmT về chế độ quản lý Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển, trao đổi chất ma túy.T tình trạng thực tế, hiện tượng nghiện hút, tiêm chích ma túy đang là vấn đề cảnh báo trên địa bàn và là vấn nạn của toàn xã hội. Ma túy đã làm băng hoại đạo đức, thuần phong mỹ tục, tan nát bao gia đình và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác như “trộm cắp”; “lừa đảo”; “cố ý gây thương tích”; thậm chí “giết người” cũng chỉ để thỏa mãn mục đích có tiền để hút hít. Do đó cần phải được xử lý nghiêm.

Vụ án có đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giảm đơn. Song cần phân hóa vai trò như sau:

Bị cáoT cùng với bị cáo S góp tiền đi mua ma túy mang về nhà S.

Tại nhà ST và S là người chuẩn bị chai nhựa ống tre làm thành công cụ để sử dụng ma túy rồiT , S, S lần lượt sử dụng ma túy bằng hình thức hút. Sau đóT mời ôngT bố bị cáo S cùng hút, S là người châm lửa cho ôngT (bố S) hút.

Các bị cáo đều thành khẩn khai báo. Các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy dịnh tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

Bị cáoT có 01 tình tiết tăng nặng “ tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS.

Đối với bị cáo S có ông nội là người có công với Cách Mạng được Nhà Nước tặng thưởng huân chương kháng chiến nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của BLHS .

Vì vậy vai trò bị cáoT đứng thứ nhất hình phạt nghiêm khắc hơn các bị cáo khác. Bị cáo S xếp thứ hai vì đã cho sử dụng địa điểm nhà mình và cùng vớiT chuẩn bị công cụ cho nhiều người cùng sử dụng ma túy.

Bị cáo S xếp vai trò thứ baT vụ án, nên hình phạt nhẹ hơn hai bị cáo cùng vụ.

[4] Về hình phạt: Các bị cáo đều là người nghiện ma túy. Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[6] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy toàn bộ dụng cụ sử dụng ma túy.

[7] Về án phí: Bị cáo Hà VănT, Hà Văn S thuộc hộ nghèo HĐXX căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí hình sự cho các bị cáoT và S.

Đối với bị cáo S phải chịu án phí hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLHS.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ : Điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.

2.Tuyên bố: Các bị cáo Hà VănT, Hà Văn S và Hà Văn S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” 3.Về hình phạt:

-Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 58; Điểm h khoản 1 Điều 52;

Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 17 của BLHS.

Xử phạt bị cáo Hà VănT 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày giam giữ (14/3/2024). Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

-Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 58; Điểm s khoản 1 Điều 51;

Điều 38 và Điều 17 của BLHS.

Xử phạt bị cáo Hà Văn S 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày giam, giữ (14/3/2024). Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

-Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 58; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 17 của BLHS.

Xử phạt bị cáo Hà Văn S 07 (Bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày giam giữ (14/3/2024). Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

4.Về vật chứng: Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 47 của BLHS; Các điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của BLTTHS.

-Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành. Phía trước phong bì có ghi “phong bì niêm phong mẫu vật vụ: BT TC 201 ngày 15/3/2024, mặt sau trên các mép dán kín có các chữ ký ghi rõ họ tên: Lê Minh Tiến, Trần Thị Thúy Hằng, Lê Mạnh Hùng và các hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa. BênT chứa toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì và 01(một) vỏ chai nhựa màu trắng không có nắp, trên thân chai có gắn một(một) ống tre; 01 (một) mảnh giấy bạc dạng giấy bạc bao thuốc lá.

01 bật lử gas màu xanh, đã qua sử dụng.

5. Về án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hà Văn S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hà VănT và bị cáo Hà Văn S.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo . Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án nàyT hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

80
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy số 42/2024/HS-ST

Số hiệu:42/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bá Thước - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 24/07/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: [email protected]
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;