Bản án về tội tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép số 19/2022/HSST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BĐ, TỈNH BÌNH PHƯỚC

BẢN ÁN 19/2022/HSST NGÀY 08/04/2022 VỀ TỘI TỔ CHỨC CHO NGƯỜI KHÁC XUẤT CẢNH TRÁI PHÉP

Ngày 08 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện BĐ xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án hình sự thụ lý số: 16/2022/HSST ngày 11 tháng 3 năm 2022; đối với bị cáo:

HUỲNH VĂN M (tên gọi khác: T); sinh năm: 1989; tại: Tây Ninh; HKTT: Ấp Tân Phong, xã TT, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 01/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Huỳnh Văn M, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1969; bị cáo có vợ là Trương Thị H nhưng đã ly hôn, bị cáo có 02 người con (lớn sinh năm 2010 và nhỏ sinh năm 2015); gia đình bị cáo có 03 anh em, bản thân bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; tiền án: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số: 13/2019/HSPT ngày 25/01/12019 của TAND tỉnh Bình Phước giữ nguyên quyết định hình phạt của Bản án số 43/2018/HSST ngày 07/8/12018 Tòa án nhân dân huyện BĐ, tỉnh Bình Phước về việc tuyên phạt bị cáo Huỳnh Văn M 01 năm 03 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Ngày 03/12/2019, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù và các quyết định khác của bản án; tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/9/2021 đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Trần Long H, sinh năm 1984; Địa chỉ: Ấp 6B, xã AK, huyên CT, tỉnh bến Tre (vắng mặt)

2. Trần Quốc K, sinh năm: 1991; Địa chỉ: Ấp VS, huyện ĐH B; huyện AM, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).

3. Nguyễn Trường C, sinh năm: 1992; Số 29, TNV, KP. PM, phường TX, thành phố ĐXH, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).

4. Hứa Văn T; sinh năm: 1997; Địa chỉ: Ấp T, xã TT, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong H sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khi biết Trần Long H và Trần Quốc K có nhu cầu sang Campuchia tìm việc làm, người có tên zalo “Gia Bảo”, “Won” (chưa rõ nhân thân) đồng ý giúp H và K xuất cảnh trái phép sang campuchia.

Ngày 10/9/2021, “Gia Bảo”, “Won” liên hệ và thuê Trần Đức Công Tâm và Nguyễn Văn Thuận chở H và K từ tỉnh Đồng Nai đến tỉnh Đắk Nông với giá tiền 11.000.000đồng, Tâm, Thuận đồng ý. Trên đường đi, Tâm, Thuận nhận được điện thoại của “Gia Bảo” nên chở H, K đến nhà nghĩ “Hữu Nghị” thuộc khu phố Phú Mỹ, phường Tân Phú, thành phố Đồng Xoài thuê phòng nghỉ tại đây, tiếp tục chờ “Gia Bảo” chỉ dẫn đi tiếp và đến khoảng 23 giờ 00 ngày 10/9/2021, H và K được đến nhà nghỉ “Phát Tài”, địa chỉ: ấp Tân Hòa, xã Tân Tiến, huyện BĐ.

Khoảng 12 giờ ngày 11/9/2021, tại nhà nghỉ “Phát Tài”. “Gia Bảo” sử dụng số điện thoại 0703014324 gọi điện thuê Huỳnh Văn M chở H và K đến khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia để H, K vượt biên sang Campuchia với giá 1.000.000 đồng, M đồng ý. “Gia Bảo” thông báo giờ đón và gửi số điện thoại của H cho M liên hệ. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Huỳnh Văn M điều khiển xe mô tô biển số 66F1 – 525.38 mượn của Hứa Văn Thông đến trước cổng nhà nghỉ “Phát Tài”. Tại đây, M dùng số điện thoại 0398112660 gọi điện cho H kêu H và K đi ra để chở đi. Khi đang đi, M thấy lực lượng biên phòng đang đi tuần tra nên đã chở H và K đến một nhà hoang thuộc ấp Tân Hội, xã TT, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước để tránh bị phát hiện, chờ thời điểm an toàn sẽ tiếp tục chở đi. Khoảng 22 giờ cùng ngày, M về nhà lấy cơm, nước uống đến cho H và K rồi đi về nhà của M nghỉ. Đến khoảng 02 giờ 00 ngày 12/9/2021, M điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66F1 – 525.38 quay lại nhà hoang chở H và K đi về phía biên giới Việt nam – Campuchia để vượt biên sang Campuchia thì bị lực lượng chức năng phát hiện và bắt giữ.

Ngoài ra, trong quá trình điều tra, M còn khai vào ngày 08/9/2021, M được “Gia Bảo” thuê đến biên giới Việt Nam – Campuchia chở 02 khách (chưa rõ nhân thân) từ ngã ba Sóc Nê gần nhà nghỉ Phát Tài vào khu vực gần biên giới ở ấp Tân Hội, xã TT, huyện BĐ để vượt biên sang Campuchia và đã nhận được tiền công 1.000.000 đồng. Tại Cơ quan ANĐT, M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.

Cáo trạng số: 13/CTr – VKSBP-P1 ngày 11/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Huỳnh Văn M về tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” theo khoản 1 Điều 348 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước đã truy tố và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát, sau khi xem xét các chứng cứ có trong H sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng; đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép” theo khoản 1 Điều 348 của Bộ luật hình sự và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo từ 02 (hai) năm đến 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù.

Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong H sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên viện kiểm sát nhân dân huyện BĐ, tỉnh Bình Phước trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và những người làm chứng.

[2] Về nội dung vụ án: Huỳnh Văn M biết người có nick Zalo “Gia Bảo” tổ chức cho H và K là những đối tượng có nhu cầu xuất cảnh sang Campuchia trái phép nhưng vì động cơ vụ lợi cá nhân, Huỳnh Văn M đã có hành vi chở H và K đến khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia để H, K vượt biên sang Campuchia để lấy tiền công là 1.000.000đồng, cụ thể là: Khoảng 17 giờ cùng ngày 11/9/2021, Huỳnh Văn M điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 66F1 – 525.38 mượn của Hứa Văn Thông đến trước cổng nhà nghỉ “Phát Tài” (nơi H và K đang lưu trú chờ để được xuất cảnh sang Campuchia). Khi đang đi, M thấy lực lượng biên phòng đang đi tuần tra nên đã chở H và K đến một nhà hoang thuộc ấp Tân Hội, xã TT, huyện BĐ, tỉnh Bình Phước để tránh bị phát hiện. Đến khoảng 02 giờ 00 ngày hôm sau, M tiếp tục điều khiển xe mô tô trên quay lại nhà hoang chở H và K đi về phía biên giới Việt nam – Campuchia để H, K vượt biên sang Campuchia thì bị lực lượng chức năng phát hiện và bắt giữ. Tại Cơ quan An ninh điều tra, M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú nói riêng, đến trật tự an toàn xã hội nói chung; Trong tình hình dịch bệnh Covid 19 đang diễn biến phức tạp trên toàn cầu, Chính phủ đã Chỉ thị cấm xuất nhập cảnh để ngăn ngừa sự lây lan của dịch bệnh, bảo vệ an toàn sức khỏe, tính mạng của người dân, bị cáo không những không chấp hành mà ngược lại vì vụ lợi cá nhân, bị cáo đã thực hiện hành vi tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép gây nguy hiểm cho cộng đồng, đồng thời gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây mất an ninh biên giới. Xét tính chất, mức độ hành vi và hậu quả do bị cáo gây ra là nghiêm trọng, nên cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng: Ngày 03/12/2019, bị cáo đã chấp hành xong toàn bộ Bản án số 13/2019/HSPT của TAND tỉnh Bình Phước. Ngày 12/9/2021, bị cáo lại phạm tội mới khi chưa được xóa án tích nên bị phải chịu tình tiết tăng nặng là “tái phạm” theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

[5] Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình giải quyết vụ án, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn; có trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. HĐXX cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Trong vụ án này, ngoài lần phạm tội trên, bị cáo còn khai nhận vào ngày 08/9/2021, có hành vi tổ chức cho 2 người khác xuất cảnh trái phép nhưng quá trình điều tra, Cơ quan ANĐT – Công an tỉnh Bình Phước không chứng minh được hành vi phạm tội này của M nên không đề cập xử lý là có cơ sở.

Đối với những người có tên “Gia Bảo”, “Won”, “Phương Vy Hr”, “Sunny”, “Ngô Hoàng Nam”, “Việt Hoàng Cambodia”, Điêu Thị Ngọc Hòa, Nguyễn Văn Lượng có các hành vi liên quan đến hoạt động tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép, hiện chưa làm rõ được nhân thân, lai lịch của những đối tượng có tên trên nên Cơ quan ANĐT Công an tỉnh Bình Phước tách ra, tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau là phù hợp.

Đối với Tâm, Thuận, Chinh, Các, Hải là những người chở H, K đến huyện BĐ nhưng không biết mục đích H, K đi là để chờ xuất cảnh trái phép nên không đề cập xử lý là có căn cứ.

Đối với Tài là chủ nhà nghỉ “Phát Tài” cho H, K thuê nghỉ lại nhưng không biết H, K nghỉ là để chờ xuất cảnh trái phép nên không đề cập xử lý là đúng theo quy định của pháp luật.

Đối với Hứa Văn Thông là người cho M mượn xe mô tô biển kiểm soát 66F1- 525.38. Tuy nhiên, Thông hoàn toàn không biết M dùng để chở người xuất cảnh trái phép nên không đề cập xử lý.

Đối với H, K là những người xuất cảnh trái phép qua Campuchia. Tuy nhiên, H và K chưa có tiền án, tiền sự về hành vi xuất cảnh trái phép, Cơ quan ANĐT Công an tỉnh Bình Phước đã có văn bản đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý hành chính đối với H, K, Tuấn. Do đó, không đặt vấn đề xử lý đối với H, K, Tuấn.

[6] Về vật chứng:

Đối với 01 chứng minh nhân dân số: 321124207 mang tên Trần Long H 01 chứng minh nhân dân số: 371553939 mang tên Trần Quốc K, Cơ quan An ninh điều tra đã trả lại cho H và K nên HĐXX không xem xét lại.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát 66F1-525.38, số khung: RLCUE 3210 HY 065629; số máy: E3X9E-169191 của Hứa Văn Thông nhưng Thông hoàn toàn không biết M mượn xe dùng để phạm tội. HĐXX xét thấy cần trả lại cho ông Thông.

Đối với 01 điện thoại di động Nokia 150V50.0011 màu đen của Huỳnh Văn M: M sử dụng để liên hệ đưa H, K đi xuất cảnh trái phép. Xét thấy, đây là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, cần tuyên tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động iphone 7 màu đen của Trần Quốc K; 01 điện thoại di động VIVO màu Hng của Trần Long H; 01 điện thoại di động samsung màu xanh dương của Nguyễn Trường Chinh không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. HĐXX xét thấy cần trả lại cho H, K và Chinh.

[7] Xét đề nghị về mức hình phạt và các vấn đề khác trong vụ án của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của HĐXX; Hội đồng xét xử chấp nhận.

Án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn M (tên gọi khác: T) phạm tội “Tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép”.

Áp dụng khoản 1 Điều 348; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt Huỳnh Văn M 02(hai) năm tù; Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (ngày 25/9/2021).

2. Vật chứng: Áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên:

Trả lại cho Hứa Văn Thông 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen, biển kiểm soát 66F1-525.38, số khung: RLCUE 3210 HY 065629; số máy: E3X9E-169191.

Trả lại cho Trần Quốc K 01 điện thoại di động iphone 7 màu đen.

Trả lại cho Trần Long H 01 điện thoại di động VIVO màu Hng.

Trả lại cho Nguyễn Trường Chinh 01 điện thoại di động samsung màu xanh dương.

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Nokia 150V50.0011 màu đen của Huỳnh Văn M.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 0007748 ngày 24/3/2022 giữa Công an tỉnh Bình Phước và Chi cục Thi hành án dân sự huyện BĐ)

3. Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

693
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tội tổ chức cho người khác xuất cảnh trái phép số 19/2022/HSST

Số hiệu:19/2022/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Bù Đăng - Bình Phước
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 08/04/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;