Bản án về tội tham ô tài sản số 561/2024/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

BẢN ÁN 561/2024/HS-ST NGÀY 22/10/2024 VỀ TỘI THAM Ô TÀI SẢN

Ngày 22 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 560/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 09 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 560/2024/QĐXXSTHS ngày 07 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đặng Đình Q (Tên gọi khác: Không có), sinh năm: 1997 tại BĐ.

Hộ khẩu thường trú: Khu vực L, phường N, thị xã A, tỉnh BĐ.

Chỗ ở hiện tại: 12/9, tổ I, khu phố H, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12;

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Họ và tên bố: Đặng Đình Đ, sinh năm 1949 (còn sống);

Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1954 (còn sống);

Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ 06 và chưa có vợ, con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/7/2024 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố B.

Bị hại: Công ty Trách nhiệm hữu hạn S.

Địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà S, số F L, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Văn Thành T, sinh năm: 1994.

Địa chỉ: 4 H, Phường A, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh.

Ông T có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đặng Đình Q là nhân viên giao hàng (shipper) của Công ty TNHH S1 (hiện nay đổi thành Công ty TNHH S) địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà S, số F L, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh (sau đây viết tắt là Công ty) không có hợp đồng lao động, Q được Công ty bố trí làm việc tại điểm kinh doanh (Bưu cục) địa chỉ số G, tổ B, khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do ông Mã Tắc L1 (sinh năm 1992, ngụ tại ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai) là Trưởng Bưu cục và Q có nhiệm vụ nhận các đơn hàng từ điểm kinh doanh trên của Công ty đi giao cho khách, đồng thời có nhiệm vụ và quyền thu số tiền do khách hàng thanh toán để nộp về cho Công ty thông qua số tài khoản Pxx00560DNI01 mở tại Ngân hàng V theo quy định, vào thời điểm cuối ca làm việc hoặc chậm nhất là 10 giờ sáng của ngày hôm sau theo quy định. Vào ngày 30/10/2021, trong quá trình làm việc, sau khi nhận 87 đơn hàng (có các Mã đơn hàng ký hiệu từ “SPXVN…01xx” đến “SPXVN…96xx”) từ kho, Quang đi giao thành công cho khách và thu được tổng số tiền do khách hàng thanh toán là 19.723.654 đồng (Mười chín triệu, bảy trăm hai mươi ba nghìn, sáu trăm năm mươi bốn đồng) nhưng Q đã lợi dụng nhiệm vụ, quyền hạn trên, không nộp số tiền trên về Công ty theo quy định mà chiếm đoạt, sử dụng tiêu xài cá nhân và trả nợ hết, nghỉ việc và không trả lại số tiền trên cho Công ty thì bị Công ty làm đơn tố cáo gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xác minh, lập hồ sơ khởi tố, điều tra xử lý.

Vật chứng vụ án gồm:

- Số tiền 19.723.654 đồng (Mười chín triệu, bảy trăm hai mươi ba nghìn, sáu trăm năm mươi bốn đồng) là số tiền Q chiếm đoạt của Công ty Cổ phần G, sau khi đã giao thành công 87 đơn hàng.

Về dân sự: Ngày 04/11/2022, Công ty TNHH S do anh Lê Văn Thành T (sinh năm 1994, ngụ 428/2/21 đường D P, phường A, quận H, thành phố Hồ Chí Minh) là đại diện theo ủy quyền đã được bị cáo Đặng Đình Q bồi thường đủ số tiền 19.723.654 đồng (Mười chín triệu, bảy trăm hai mươi ba nghìn, sáu trăm năm mươi bốn đồng) và không có yêu cầu bồi thường khác.

Tại Bản cáo trạng số 548/CT-VKSBH ngày 20 tháng 09 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Đặng Đình Q về tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng nêu. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện bị hại có đơn đề nghị bãi nại và xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Đình Q phạm tội “Tham ô tài sản”

2. Áp dụng khoản 1 Điều 353; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị xử phạt bị cáo từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù giảm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại đối với hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về nội dung vụ án:

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội là vào ngày 30 tháng 10 năm 2021, bị cáo Đặng Đình Q là nhân viên (shipper) giao hàng của Công ty TNHH S làm việc tại điểm kinh doanh số 753/1, tổ B, khu phố C, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vào ngày 30/10/2021, bị cáo đã có hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn tham ô chiếm đoạt tổng số tiền 19.723.654 đồng (Mười chín triệu, bảy trăm hai mươi ba nghìn, sáu trăm năm mươi bốn đồng) của tổng 87 đơn hàng (có các Mã đơn hàng ký hiệu từ “SPXVN…01xx” đến “SPXVN…96xx”) do khách hàng thanh toán cho Công ty G thì bị phát hiện, khởi tố, điều tra xử lý.

[3] Về tội danh:

Xét thấy, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các tình tiết khách quan và chứng cứ có tại hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định khoản 1 Điều 353 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình.

[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của nhà nước, xâm phạm quyền sở hữu của công dân. Do đó, cần phải có mức hình phạt phù hợp cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có điều kiện giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm vào tình tiết nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Xét thấy, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục bồi thường cho bị hại, được bị hại bãi nại, bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án tiền sự nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về dân sự:

Bị cáo đã bồi thường; bị hại không yêu cầu gì khác nên không đặt ra xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

[9] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ các Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Đình Q phạm tội “Tham ô tài sản”.

Xử phạt bị cáo Đặng Đình Q 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/7/2024.

2. Về dân sự: Không xem xét giải quyết.

3. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

64
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tội tham ô tài sản số 561/2024/HS-ST

Số hiệu:561/2024/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa - Đồng Nai
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 22/10/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: [email protected]
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;