TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VIỆT YÊN, TỈNH BẮC GIANG
BẢN ÁN 261/2024/HS-ST NGÀY 06/12/2024 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ
Ngày 06 tháng 12 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 246/2024/TLST- HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 252/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
* Tại điểm cầu thành phần:
Đặng Ngọc H, sinh năm 1996; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không.
Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố H, phường T X, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang; Nơi tạm trú: Thôn S K 1, xã S K, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông: Đặng Ngọc H1 (đã chết); Con bà: Ngô Thị T1; Vợ: Ngô Thị Vân A (đã ly hôn); Con: có 01 con, sinh năm 2020; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình;
Tiền án: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 07/2021/HSPT ngày 15/01/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, xử phạt Đặng Ngọc H 07 tháng 05 ngày tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 53/2022/HSPT ngày 26/4/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, xử phạt Đặng Ngọc H 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/12/2022;
Nhân thân: Ngày 03/9/2020, Đặng Ngọc H bị Công an thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt hành chính về hành vi “Dùng thủ đoạn gian đối để chiếm đoạt tài sản” (thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản chưa đủ định L truy cứu trách nhiệm hình sự trong vụ án được Tòa án tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm ngày 15/01/2021); Ngày 04/9/2020, Đặng Ngọc H bị Công an huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt hành chính về hành vi “Dùng thủ đoạn gian đối để chiếm đoạt tài sản” (thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản chưa đủ định L truy cứu trách nhiệm hình sự trong vụ án được Tòa án tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm ngày 15/01/2021).
Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/6/2024; Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Bắc Giang (có mặt).
* Tại điểm cầu trung tâm:
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. A Đ Đức A, sinh năm 1999 (vắng mặt) Nơi cư trú: T L X, xã S K, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
2. Chị Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1998 (vắng mặt) Nơi cư trú: T L X, xã S K, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
3. A Huỳnh Ngọc L, sinh năm 2000 (vắng mặt) Nơi cư trú: Số 58, Ngõ 2, đường G V, phường C L, quận Đ Đ, thành phố Hà Nội.
4. A Nguyễn Thế A, sinh năm 1983 (vắng mặt) Nơi cư trú: Tổ dân phố C, thị trấn P X, huyện Y T, tỉnh Bắc Giang.
5. A Hoàng Doãn L, sinh năm 1999 (vắng mặt) Nơi cư trú: T N N, xã T L, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn.
- Người làm chứng: A Trần Văn L, sinh năm 2000 (vắng mặt) Nơi cư trú: T N T, xã T T, huyện Y T, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 10 phút ngày 03/6/2024, tại đoạn đường giao thông “T C P” thuộc địa phận Tổ dân phố Như Thiết, phường Hồng Thái, thị xã V Y, tỉnh Bắc Giang; Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Bắc Giang phát hiện Đặng Ngọc H đang tàng trữ ma túy trên người khi ngồi cùng một người đàn ông không xác định được là ai tại hàng ghế sau xe ô tô tắc xi nhãn hiệu Hd, biển số 98A-365xx của A Đ Đức A đang đỗ ở rìa đường. Khi Công an bắt giữ, người đàn ông ngồi cạnh H chạy thoát, còn H bỏ chạy ra khỏi xe ô tô, đồng thời vứt ma túy xuống đường thì bị bắt giữ. Vật chứng thu giữ: thu tại vị trí mặt đường nơi H vứt ma túy 01 gói giấy màu trắng, bên trong đựng 01 túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT H”; thu trên người H 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, lắp sim số 0336.290xxx, được niêm phong trong phong bì ký hiệu “ĐT H”, 01 ví da màu đen, bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Đặng Ngọc H; ngoài ra thu giữ 01 ô tô tắc xi nhãn hiệu Hd, biển số 98A-365xx và 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda W, số máy JA39E-0625XXX, số khung RLHJA390XHY650XXX, đeo biển số 12S1-122xx đang đỗ cạnh xe ô tô. Cơ quan điều tra sử dụng que test kiểm tra việc sử dụng chất ma túy đối với H, kết quả dương tính với chất ma túy Ket, Met.
Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Giang tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đặng Ngọc H đang thuê trọ tại thôn S K 1, xã S K, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang; kết quả khám xét không thu giữ được đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Giang trưng cầu Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang giám định chất ma túy đối với vật chứng thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu “QT H”.
Tại Kết luận giám định số 1228/KL-KTHS ngày 07/6/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang kết luận: “Trong 01 (một) phong bì có ký hiệu “QT H” đã được niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 (một) túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, được đựng trong 01 (một) gói giấy màu trắng là ma túy, có khối L 20,985 gam, loại Ketamine”.
Quá trình điều tra, Đặng Ngọc H khai nhận: H là người sử dụng ma túy, ở trọ cùng mẹ đẻ là bà Ngô Thị T1, sinh năm 1971, tại nhà trọ thuê của A Vũ Văn Giáp, sinh năm 1985, ở Thôn S K 1, xã S K, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Khoảng 13 giờ ngày 03/6/2024, H đang ở nhà trọ thì có có số điện thoại 0398.491xxx của bạn là nam giới mới quen biết ngoài xã hội, chỉ biết tên là H quê ở Thái Nguyên gọi điện đến số điện thoại 0336.290xxx lắp trong điện thoại di động nhãn hiệu Iphone của H. H thông báo đang đi xuống tỉnh Bắc Giang, hẹn qua chỗ H chơi, khi nào đến sẽ thông báo cho H ra đón. Lúc này, H muốn sử dụng ma túy và có ý định muốn mời H cùng sử dụng ma túy nên đã gọi điện đến số điện thoại 0869.218xxx của người mới biết ngoài xã hội chỉ biết người này nói tên là C, quê ở tổ dân phố My Đ, phường N, thị xã V Y, tỉnh Bắc Giang hỏi mua 05 “chỉ” ma túy Ketamine, mục đích để sử dụng dần. C báo giá mua số ma túy trên hết tổng số tiền 3.000.000 đồng, H đồng ý mua ma túy và bảo C cho nợ tiền rồi trả sau. C đồng ý, bảo H đi ra khu vực rìa đường mới gần Đài truyền hình tỉnh Bắc Giang, thuộc địa phận thôn Đ L, xã T M thành phố Bắc Giang để lấy ma túy. Sau đó, H một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda W, đeo biển số 12S1-122xx đến điểm hẹn với C để mua ma túy. Khi đến điểm hẹn, H gọi điện lại cho C thì được C thông báo ma túy đựng trong gói giấy màu trắng để ở bụi cỏ rìa đường. Theo chỉ dẫn của C, H đã tìm thấy trong bụi cỏ ở ven đường 01 gói giấy màu trắng, bên trong có 01 túi ni lon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ, bên trong chứa ma túy dạng tinh thể màu trắng và 02 viên ma túy hồng phiến “Ngựa”. Sau đó, H cất giấu gói ma túy trên người rồi điều khiển xe mô tô quay về nhà trọ. Trên đường đi về đến địa phận xã S K, thành phố Bắc Giang, H đỗ xe mô tô ở rìa đường rồi bỏ hai viên ma túy “Ngựa” ra tự sử dụng hết. Sử dụng ma túy xong, H điều khiển xe mô tô về nhà trọ. Khoảng 15 giờ cùng ngày, sau khi nhận được điện thoại của H, H cầm số ma túy Ketamine còn lại trong lòng bàn tay trái, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda W, đeo biển số 12S1-122xx đi đón H. Theo chỉ dẫn của H, H điều khiển xe mô tô đến đoạn đường giao thông “T C P” thuộc địa phận Tổ dân phố Như Thiết, phường Hồng Thái, thị xã V Y, tỉnh Bắc Giang, thấy H ngồi một mình ở hàng ghế sau trên xe ô tô tắc xi nhãn hiệu Hd, biển số 98A-365xx của A Đ Đức A đang đỗ ở rìa đường, còn A A xuống xe để mua nước uống. Lúc này, H đỗ xe mô tô ở rìa đường, cầm theo ma túy vào trong xe ô tô ngồi cùng H nH chưa kịp nói chuyện gì thì Công an đến xe ô tô. Thấy vậy, H, H đều bỏ chạy khỏi xe ô tô. H chạy thoát, còn H vừa chạy ra khỏi xe đồng thời ném ma túy xuống mặt đường thì bị Công an bắt giữ, thu giữ toàn bộ số ma túy mang theo, mục đích chỉ để sử dụng.
Cơ quan điều tra kiểm tra điện thoại di động thu giữ của H và tra cứu chủ thuê bao, lịch sử liên lạc giữa số điện thoại H gọi cho người bán ma túy H khai là C và người đàn ông tên H. Kết quả: số điện thoại 0336.290xxx đăng ký mang tên H; số 0398.491xxx đăng ký mang tên bà Nguyễn Thị Triệc, sinh năm 1930, trú tại Khu phố 9, thị Trấn Gio Linh, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị; số 0869.218xxx đăng ký mang tên A Nguyễn Thế A, sinh năm 1983, trú tại Tổ dân phố C, thị trấn P X, huyện Y T, tỉnh Bắc Giang; trong điện thoại của H và lịch sử giao dịch đều thể hiện ba số điện thoại di động trên có cuộc gọi đi, đến với nhau trong thời gian như nêu trên.
Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nêu trên của H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V Y đã có Công văn đề nghị Công an thành phố Bắc Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Tại Bản cáo trạng số 257/CT-VKS ngày 28/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã V Y truy tố bị cáo Đặng Ngọc H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm l, o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo H. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử, xử:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm l, o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đặng Ngọc H từ 08 năm tù đến 08 năm 6 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/6/2024.
Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo H.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị xử lý vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.
* Tại cơ quan điều tra, truy tố và tại phiên toà hôm nay, bị cáo H đã khai nhận rõ hành vi của mình như cáo trạng đã nêu và nhận thức được việc làm của mình là sai, bị cáo không có ý kiến trA luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã V Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã V Y, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; Người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nH vắng mặt. Tuy nhiên, tại giai đoạn điều tra đã có lời khai nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết khách quan, toàn diện vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ là phù hợp với quy định tại Điều 292; Điều 293; Điều 305 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về tội dA: Lời khai của bị cáo H tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và Kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử xét thấy đã có đủ cơ sở kết luận:
Bị cáo Đặng Ngọc H là người sử dụng ma túy và đang có hai tiền án. Hồi 15 giờ 10 phút ngày 03/6/2024, tại đoạn đường giao thông “T C P” thuộc địa phận Tổ dân phố Như Thiết, phường Hồng Thái, thị xã V Y, tỉnh Bắc Giang, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Bắc Giang phát hiện, bắt quả tang H đang có hành vi tàng trữ trái phép 20,985 gam ma túy, loại Ketamine, mục đích chỉ để sử dụng dần. Sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Giang đã bàn giao H cùng vật chứng, tài liệu có liên quan đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã V Y để điều tra theo thẩm quyền.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Với hành vi nêu trên của bị cáo H đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm l, o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã V Y truy tố bị cáo theo tội dA và điều khoản trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến việc độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân, hành vi của bị cáo đã gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương và sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng không tốt đến trật tự gia đình và xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh một số tội phạm nguy hiểm khác, là con đường lây lan của một số căn bệnh xã hội nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, vụ án cần phải được xử lý nghiêm tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:
Tại cơ quan điều tra, truy tố và tại phiên toà hôm nay bị cáo H có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
[6] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:
- Về nhân thân: Bị cáo H có nhân thân xấu từng bị xử phạt hành chính và xét xử về các tội xâm phạm sở hữu.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H không có.
Từ những phân tích trên, đánh giá về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo và nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy bị cáo H có nhân thân xấu đã từng bị xử phạt hành chính và xét xử nhiều lần nH không lấy đó làm bài học lại thực hiện hành vi phạm tội nên cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian để cách ly bị cáo với xã hội, mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật.
Như vậy, mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề xuất đối với bị cáo H tại phiên tòa là phù hợp.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo H tàng trữ ma túy với mục đích để sử dụng, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo H cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[8] Về vật chứng của vụ án:
- Đối với 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, có đường viền màu đỏ, bên trong chứa ma túy Ketamine còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT H” có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang, mẫu vật hoàn lại sau giám định, kết luận là chất ma túy, vật Nhà nước cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với xe ô tô tắc xi nhãn hiệu Hd, biển số 98A-365xx là tài sản của A Đ Đức A. Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô cho A Đ Đức A nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Đối với xe mô tô thu giữ, H khai mua lại của người không quen biết. Kết quả điều tra xác định xe mô tô nhãn hiệu Honda W, số máy JA39E-0625XXX, số khung RLHJA390XHY650XXX, được đăng ký biển số 29E2-411xx là tài sản của A Huỳnh Ngọc L, sinh năm 2000, trú tại số 58, ngõ 2 G V, phường C L, quận Đ Đ, thành phố Hà Nội, bị trộm cắp năm 2020 khi để xe ở cửa nhà. Cơ quan điều tra đã tách chuyển xe mô tô đến Công an quận Đ Đ, thành phố Hà Nội để điều tra, xử lý về tội trộm cắp tài sản. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
- Đối với Biển số 12S1-122xx đăng ký của xe mô tô nhãn hiệu Honda Ablade, mang tên chủ sở hữu là A Hoàng Doãn L, sinh năm 1999, trú tại T N N, xã T L, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn; A L khai đã bán xe mô tô cho người không quen biết năm 2021; Cơ quan điều tra tiến hành tra cứu xác định không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, có số seri FCHZQA5WNxxx, lắp sim 0336.290xxx được cho vào phong bì niêm phong dán kín, ký hiệu “ĐT H” là tài sản của bị cáo dùng vào việc phạm tội nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 ví da màu đen bên trong có 01 căn cước công dân mang tên Đặng Ngọc H là tài sản, giấy tờ tùy thân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại cho bị cáo.
[9] Các vấn đề khác:
- Kết quả điều tra thể hiện A Nguyễn Thế A và bà Triệc không sử dụng hai số điện thoại di động nêu trên, không biết H là ai, không mua bán ma túy; đồng thời A Đ Đức A không biết H mang ma túy lên xe ô tô, bà Thu khi ở cùng H và A Giáp khi cho thuê ở trọ đều không biết H sử dụng, tàng trữ ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
- Đối với người đàn ông tên H, H khai không biết họ tên, địa chỉ cụ thể, khi gặp mặt không nói cho biết H có ma túy và chưa mời sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra làm rõ và đề cập xử lý.
- Đối với người bán ma túy, H khai không biết cụ thể là ai, ở đâu nên Cơ quan điều tra tách ra để tiếp tục điều tra, khi nào có căn cứ đề nghị xử lý sau.
[10] Về án phí: Bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm quy định tại Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về trách nhiệm hình sự:
Căn cứ vào điểm l, điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đặng Ngọc H 08 (tám) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 03/6/2024.
Miễn phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Đặng Ngọc H.
[2] Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
* Tịch thu tiêu hủy:
- 01(một) túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, có đường viền màu đỏ, bên trong chứa ma túy Ketamine còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì thư ký hiệu “QT H” có dấu niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Giang.
- 01(một) biển số 12S1-122xx * Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, có số seri FCHZQA5WNxxx, lắp sim 0336.290xxx được cho vào phong bì niêm phong dán kín, ký hiệu “ĐT H” * Trả lại bị cáo H: 01(một) ví da màu đen bên trong có 01(một) căn cước công dân mang tên Đặng Ngọc H.
[3] Về án phí: : Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Buộc bị cáo Đặng Ngọc H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo thủ tục tố tụng hình sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý số 261/2024/HS-ST
| Số hiệu: | 261/2024/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Việt Yên - Bắc Giang |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 06/12/2024 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về