Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý số 21/2022/HS-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG

BẢN ÁN 21/2022/HS-ST NGÀY 19/04/2022 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ

Ngày 19 tháng 4 năm 2022, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân huyện Thanh Miện xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2022/HSST ngày 05 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:

Lê Trường Q, sinh năm 1992 tại tỉnh H; Nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện A, tỉnh H; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Trường V (đã chết) và bà Mạch Thị H; Có vợ là Hoàng Thị P và 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/12/2021 đến 30/12/2021, chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

+ Anh Bùi Văn H1.

+ Anh Lê Quang T.

Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ ngày 27/12/2021, tại khu vực đoạn đường thôn gần cống Đ thuộc địa phận thôn L, xã H, huyện T, tỉnh H1, lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang Lê Trường Q cất giấu trong lòng bàn tay phải 01 gói nilon màu trắng, bên ngoài được quấn bằng băng dính đen, trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. Q khai nhận túi nilon chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma túy đá, Q mua để sử dụng. Cơ quan điều tra thu giữ vật chứng gồm: 01 gói nilon màu trắng kích thước khoảng (3x2,5)cm, trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng, ngoài được quấn băng dính màu đen và 01 xe mô tô gắn biển kiểm soát 89H7-0435.

Quá trình điều tra, Q khai nhận: Khoảng 21 giờ ngày 27/12/2021, Q đi bộ từ nhà đến nhà anh Nguyễn Văn Tuấn A, sinh năm 1998 ở cùng thôn mượn xe môtô mang BKS: 89H7-0435 đi đến địa phận huyện P, tỉnh H tìm mua ma túy sử dụng. Khi đi đến đoạn đường thuộc địa phận xã Đ, Q gặp người đàn ông không quen biết khoảng 30 tuổi hỏi mua ma túy đá. Người đàn ông đồng ý bán cho Q gói ma túy đá với giá 300.000 đồng, Q đưa tiền rồi nhận gói ma túy được bọc ngoài bằng nilon màu trắng; sau đó người bán ma túy đưa cho Q một đoạn băng dính màu đen để cuộn gói ma túy. Q dùng đoạn băng dính bọc ngoài gói ma túy vừa mua được rồi cầm trong lòng bàn tay phải điều khiển xe mô tô đi về nhà. Khi Q đi đến đoạn đường thôn (gần cống Đ) thuộc địa phận thôn L, xã H, huyện T thì bị lực lượng Công an huyện Thanh Miện kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Kết luận giám định số 105/KLGĐ-PC09 ngày 30/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong đoạn ống nhựa được niêm phong trong phong bì ghi thu của Lê Trường Q, gửi đến giám định có khối lượng là: 0,334g là ma túy, loại Methamphetamine. Hoàn lại 0,313g ma túy, loại Methamphetamine, 01 vỏ túi nilon, 01 mảnh băng dính màu đen và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định.

Tại bản Cáo trạng số: 21/CT-VKS ngày 04 tháng 4 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Lê Trường Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương thực hành quyền công tố, trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị HĐXX:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Trường Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Trường Q từ 14 tháng tù đến 17 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 27/12/2021.

- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

- Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Tịch thu cho tiêu huỷ: 0,313g ma túy loại Methamphetamine, 1 túi nilon, 01 vỏ phong bì và 01 mảnh băng dính màu đen đựng trong phong bì thư màu trắng được niêm phong.

- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

2. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thanh Miện; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra; phù hợp với lời khai của người làm chứng, Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 23 giờ ngày 27/12/2021, tại khu vực đường thôn L, xã H, huyện T, tỉnh H1; Lê Trường Q có hành vi tàng trữ trái phép 0,334 gam Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Miện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo Q là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy; Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có ma túy để sử dụng cho bản thân nên đã cố ý vi phạm.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện truy tố bị cáo là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Khi xem xét, quyết định hình phạt, HĐXX nhận thấy:

- Bị cáo không có tiền án, tiền sự; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

- Như vậy, bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, phạm vào loại tội phạm nghiêm trọng, thể hiện ý thức coi thường pháp luật nên HĐXX cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn mới có tác dụng răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội. Tuy nhiên, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, HĐXX sẽ xem xét, giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo để thể hiện chính sách hình sự của Nhà nước cũng như sự khoan hồng của pháp luật.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định, đang bị tạm giam nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 0,313g ma túy loại Methamphetamine hoàn lại sau giám định, 1 túi nilon, 01 vỏ phong bì và 01 mảnh băng dính màu đen đựng trong phong bì thư màu trắng được niêm phong là những vật chứng thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần bị tịch thu và cho tiêu hủy.

- Đối với xe mô tô biển kiểm soát 89H7-0435 là tài sản của anh Nguyễn Văn Tuấn A, sinh năm 1998 ở Thôn A, xã H, huyện A, tỉnh H, anh Tuấn A không biết Q sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho anh Tuấn A là phù hợp.

- Quá trình điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ người bán ma túy cho bị cáo nên không có căn cứ xem xét xử lý.

[6] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c khoản 2 Điều 106; Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc Hội; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Trường Q phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Trường Q 15 (mười lăm) tháng tù;

Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ: 27/12/2021.

3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu cho tiêu huỷ: 0,313g ma túy loại Methamphetamine, 1 túi nilon, 01 vỏ phong bì và 01 mảnh băng dính màu đen đựng trong phong bì thư màu trắng được niêm phong.

Vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương. (Tình trạng vật chứng như trong Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/4/2022 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện Thanh Miện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương).

4. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

176
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tội tàng trữ trái phép chất ma tuý số 21/2022/HS-ST

Số hiệu:21/2022/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thanh Miện - Hải Dương
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 19/04/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;