TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LA, TỈNH SƠN LA
BẢN ÁN 85/2023/HS-ST NGÀY 08/08/2023 VỀ TỘI LÀM GIẢ TÀI LIỆU CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC
Ngày 08 tháng 8 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 88/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2023/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2023 đối với bị cáo:
BMC, sinh ngày 16/12/1986, tại MB, Mường La, Sơn La; Nơi ĐKHKTT: Bản G, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Hải, sinh năm 1963 và con bà Tòng Thị Hộn, sinh năm 1965; có vợ là QTN, sinh năm 1990, có hai con lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 07/4/2023; Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Thanh B, bà Nguyễn Tố H – Luật sư, Công ty Luật TNHH Trung Quân. Địa chỉ: 168A, đường Láng, phố TQ, quận ĐĐ, Thành Phố Hà Nội. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị QTN, sinh năm 1990, địa chỉ: Bản G, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Có mặt.
Anh LVT, sinh năm 2001, địa chỉ: Bản Ta Mo, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt.
Chị HTC, sinh năm 1996, địa chỉ: Bản Pá Xúm, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt.
Anh LVQ, sinh năm 1998, địa chỉ: Bản Ngoạng, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt.
Anh LVX, sinh năm 1996, địa chỉ: Bản Nà Nong, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt.
Chị TTTH, sinh ngày 27/6/2006, địa chỉ: Bản Hua Bó, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị TTTH:
Ông TVĐ, sinh năm 1980 là bố, địa chỉ: Bản Hua Bó, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Có đề nghị xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo BMC bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố về hành vi phạm tội như sau:
BMC kinh doanh chụp ảnh, photocopi tại gia đình ở bản G, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Cuối tháng 01/2023 BMC thấy một số người dân đến quán chụp ảnh, photocopi làm hồ sơ để đi xin việc làm ở các công ty dưới xuôi. Nghe thấy mọi người nói đến làm ở Ủy ban nhân dân và Công an xã không làm được vì muốn thay đổi thông tin trong giấy tờ như giấy khai sinh, đơn xin xác nhận nơi cư trú. BMC đã dùng máy vi tính soạn thảo các loại giấy tờ nêu trên, chụp ảnh con dấu và chữ ký của bản gốc của phó chủ tịch Ủy ban nhân dân là ông Lò Văn Q2 và của trưởng Công an xã MB là ông Bạc Thanh Tuyền, dùng kỹ thuật photosop cắt ghép vào phần ký tên đóng dấu trong văn bản soạn giả, sau đó in màu ra văn bản giả của Ủy ban nhân dân và Công an xã MB.
Cụ thể: Ngày 01/02/2023 anh LVT, sinh năm 2001, địa chỉ: Bản Ta Mo, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La đến quán của BMC mua và làm hồ sơ, thấy BMC làm đơn xác nhận nơi cư trú có dấu của trưởng Công an xã MB nên đã nhờ làm với giá 50.000, đồng. Sau đó BMC đã làm cho anh LVT một Đơn xin xác nhận nơi cư trú, có ảnh và có xác nhận ký tên đóng dấu của ông trưởng Công an xã MB Bạc Thanh Tuyền. Khi về nhà xem lại thấy dấu trong đơn xác nhận nơi cư trú không đúng nên anh LVT đã đến Công an xã MB trình báo, cùng tài liệu.
Vật chứng thu giữ:
01 đơn xác nhận nơi cư trú mang tên LVT, sinh 19/12/2001, địa chỉ: Bản Ta Mo, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Có xác nhận ký tên đóng dấu của trưởng Công an xã MB ông Bạc Thanh Tuyền. Do anh LVT giao nộp;
Các tài liệu do BMC tự giác giao nộp gồm:
01 đơn xác nhận nơi cư trú mang tên Tòng Thị H1, sinh ngày 27/06/2003, địa chỉ: Bản Hua Bó, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Có xác nhận ký tên đóng dấu của trưởng Công an xã MB ông Bạc Thanh Tuyền;
01 giấy khai sinh bản sao mang tên HTC, sinh ngày 01/01/ 1996, địa chỉ: Xã Nà Bó, huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La. Có xác nhận ký tên đóng dấu của phó chủ tịch Ủy ban nhân dân ông Lò Văn Q2;
01 giấy khai sinh bản sao mang tên LVX, sinh ngày 10/01/ 1996, địa chỉ: Bản Nà Nong, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Có xác nhận ký tên đóng dấu của phó chủ tịch Ủy ban nhân dân ông Lò Văn Q2;
01 giấy khai sinh bản sao mang tên LVQ, sinh ngày 23/11/ 1998, địa chỉ: Bản Ngoạng, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Có xác nhận ký tên đóng dấu của phó chủ tịch Ủy ban nhân dân ông Lò Văn Q2;
01 màn hình máy tính nhãn hiệu DELL-42419H sản xuất năm 2019;
01 máy in màu nhãn hiệu Canon-IX6770;
01 cây máy tính mặt trước có ghi dòng XLG-MATAK;
01 bàn phím nhãn hiệu FuhLen;
01 chuột máy tính nhãn hiệu FuhLen;
06 dây kết nối, trong đó 04 dây màu đen, 02 dây màu trắng.
BMC khai nhận trước khi làm giả đơn xác nhận nơi cư trú cho LVT, còn làm giả bốn tài liệu: 01 đơn xác nhận nơi cư trú mang tên Tòng Thị H1 cho TTTH; 01 giấy khai sinh bản sao mang tên HTC; 01 giấy khai sinh bản sao mang tên LVX; 01 giấy khai sinh bản sao mang tên LVQ. BMC đã thu tiền của LVT 50.000, đồng; LVX 50.000, đồng và của LVQ 30.000, đồng.
Ngày 20/02/2023 Cơ quan Công an huyện Mường La ra quyết định trưng cầu giám định đối với 05 tài liệu đã thu giữ, kết quả:
Tại Kết luận giám định số: 483/KL-KTHS ngày 28/02/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Chữ ký, dấu đóng của trưởng Công an xã MB ông Bạc Thanh Tuyền và chữ ký, dấu đóng của phó chủ tịch Ủy ban nhân dân ông Lò Văn Q2 trong các tài liệu: 01 đơn xác nhận nơi cư trú mang tên LVT; 01 đơn xác nhận nơi cư trú mang tên Tòng Thị H1 cho TTTH; 01 giấy khai sinh bản sao mang tên HTC; 01 giấy khai sinh bản sao mang tên LVX;
01 giấy khai sinh bản sao mang tên LVQ đều là giả.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo BMC, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo BMC đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Bản cáo trạng số: 59/CT-VKS-ML ngày 18 tháng 7 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La truy tố bị cáo BMC về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm b, c khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo BMC phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 341, điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt BMC từ 30 đến 36 tháng tù;
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Đối với tài sản thu giữ được xác định là của gia đình bị cáo, khi bị cáo sử dụng làm tài liệu giả vợ bị cáo là chị QTN không biết, đây là tài sản để kinh doanh kiếm sống của gia đình, chị QTN có đơn xin lại tài sản cần trả cho chị QTN số tài sản gồm:
01 màn hình máy tính nhãn hiệu DELL-42419H sản xuất năm 2019; 01 máy in màu nhãn hiệu Canon-IX6770; 01 cây máy tính mặt trước có ghi dòng XLG-MATAK; 01 bàn phím nhãn hiệu FuhLen; 01 chuột máy tính nhãn hiệu FuhLen; 06 dây kết nối, trong đó 04 dây màu đen, 02 dây màu trắng.
Chấp nhận việc bị cáo BMC đã tự nguyện nộp số tiền do phạm tội mà có là 130.000, đồng để sung nộp ngân sách Nhà Nước.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mường La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Những người bào chữa cho bị cáo BMC vắng mặt tại phiên tòa do bị cáo BMC có văn bản từ chối người bào chữa. Cần chấp nhận theo quy định khoản 1 Điều 77 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3]. Bị cáo BMC thừa nhận: Ngày 01/02/2023, tại bản G, xã MB, huyện Mường La, tỉnh Sơn La đã thực hiện hành vi dùng máy vi tính soạn thảo các loại giấy tờ, chụp ảnh con dấu và chữ ký của bản gốc của trưởng Công an xã MB là ông Bạc Thanh Tuyền, dùng kỹ thuật photosop cắt ghép vào phần ký tên đóng dấu trong văn bản soạn giả, sau đó in màu ra văn bản giả 01 đơn xác nhận nơi cư trú mang tên LVT.
Ngoài ra trước đó còn làm giả bốn tài liệu: 01 đơn xác nhận nơi cư trú mang tên Tòng Thị H1 cho TTTH; 01 giấy khai sinh bản sao mang tên HTC;
01 giấy khai sinh bản sao mang tên LVX; 01 giấy khai sinh bản sao mang tên LVQ.
BMC đã thu tiền của LVT 50.000, đồng; LVX 50.000, đồng và của LVQ 30.000, đồng.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản khám nghiệm hiện trường; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Thông báo kết quả giám định, lời khai của những người liên quan.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: BMC đã thực hiện hành vi làm giả tài liệu của Ủy ban nhân dân xã MB, huyện Mường La và của Công an xã MB, huyện Mường La, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm b, c khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Bị cáo không có tài sản nên không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: Tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý hành chính của Nhà nước về tài liệu, xâm phạm trật tự an toàn của cơ quan Nhà nước trong lĩnh vực quản lý hành chính. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, cần có mức hình phạt nhằm giáo dục bị cáo.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo khai ra các hành vi phạm tội trước đó là tự thú; gia đình và chính quyền địa phương có đơn xin giảm nhẹ; Bị cáo tự nguyện nộp tiền do phạm tội mà có để khắc phục hậu quả, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật; thực hiện các nghĩa vụ công dân; chưa có tiền án, tiền sự.
[4]. Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Đối với tài sản: 01 màn hình máy tính nhãn hiệu DELL-42419H sản xuất năm 2019; 01 máy in màu nhãn hiệu Canon-IX6770; 01 cây máy tính mặt trước có ghi dòng XLG-MATAK; 01 bàn phím nhãn hiệu FuhLen; 01 chuột máy tính nhãn hiệu FuhLen; 06 dây kết nối, trong đó 04 dây màu đen, 02 dây màu trắng.
Được xác định là của gia đình bị cáo, khi bị cáo sử dụng làm tài liệu giả vợ bị cáo là chị QTN không biết, đây là tài sản để kinh doanh kiếm sống của gia đình, chị QTN có đơn xin lại tài sản là có căn cứ chấp nhận trả cho chị QTN số tài sản trên.
Đối với số tiền do phạm tội mà có là 130.000, đồng bị cáo BMC đã tự nguyện nộp để sung nộp ngân sách Nhà Nước, cần chấp nhận.
[5]. Xét các hành vi của những người liên quan:
Anh LVT, chị TTTH; ông TVĐ; chị HTC; anh LVX; anh LVQ đều không biết tài liệu do bị làm là giả, đã được Công an nhắc nhở là có căn cứ.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm b, c khoản 2 Điều 341; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Tuyên bố BMC phạm tội: “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Xử phạt bị cáo BMC 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày vào trại chấp hành hình phạt tù.
Không phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Trả lại cho chị QTN:
01 màn hình vi tính nhãn hiệu DELL-42419H sản xuất năm 2019;
01 máy in màu nhãn hiệu Canon-IX6770;
01 cây máy tính mặt trước có ghi dòng XLG-MATAK;
01 bàn phím nhãn hiệu FuhLen;
01 chuột máy tính nhãn hiệu FuhLen;
06 dây kết nối, trong đó 04 dây màu đen, 02 dây màu trắng.
Đều được niên phong theo biên bản niên phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, ngày 03/02/2023. Theo biên bản giao nhận vật chứng chuyển ngày 20/7/2023 cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
Sung nộp ngân sách Nhà Nước 130.000, đồng (một trăm ba mươi nghìn đồng) do bị cáo BMC đã tự nguyện nộp.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo BMC phải chịu 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị QTN được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 08/8/2023.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niên yết.
Bản án về tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức số 85/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 85/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Mường La - Sơn La |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 08/08/2023 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về