TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH B
BẢN ÁN 39/2023/HS-ST NGÀY 16/02/2023 VỀ TỘI LÀM GIẢ TÀI LIỆU CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC
Ngày 16 tháng 02 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố P xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 270/2022/TLST- HS ngày 09 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2023/QĐXXST-HS ngày 01/02/2023; đối với bị cáo:
Đoàn Quốc P, Sinh năm: 1983 tại B; Nơi cư trú: khu phố 4, phường Phú Thủy, thành phố P, tỉnh B; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: thợ hớt tóc; Con ông Đoàn Văn P và con bà Nguyễn Thị Hạnh; Vợ: Phạm Thị Thu C, sinh năm 1990; Con: có 02 người con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: không;
Bị caó hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thế Đ, sinh năm 1961, (có mặt). Trú tại: khu phố 6, phường Đức Long, thành phố P, tỉnh B.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đoàn Quốc P (sinh năm 1983, trú tại khu phố 4, phường Phú Thủy, thành phố P) có mối quan hệ quen biết với ông Nguyễn Thế Đ (sinh năm 1961, trú tại khu phố 6, phường Đức Long, thành phố P). Qúa trình quen biết, P thường xuyên vay tiền của ông Đ và có trả lãi đầy đủ, đúng hẹn. Trong năm 2017, P vay của ông Đ số tiền 500.000.000 đồng với lãi suất 1%/tháng. Đến đầu năm 2018, P tiếp tục vay của ông Đ số tiền 1.000.000.000 đồng với lãi suất 1%/tháng (hai bên không lập giấy tờ thể hiện cho việc vay mượn). Đến khoảng tháng 5/2018, do cần tiền để trả nợ và mở rộng kinh doanh nên P tiếp tục hỏi vay của ông Đ số tiền 1.500.000.000đồng thì ông Đ yêu cầu P phải có tài sản để đảm bảo cho việc vay tiền. Lúc này, P vừa mua của ông Nguyễn S (sinh năm 1961, trú tại khu phố 14, phường P Thủy, thành phố P) căn nhà số 91 đường Tuyên Quang, thuộc khu phố 4, phường P Thủy, thành phố P với giá 5.500.000.000 đồng. Căn nhà trên đã được Ủy ban nhân dân thành phố P cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 288459 ngày 04/3/2011 cho ông Nguyễn S và đã chỉnh lý sang tên cho Đoàn Quốc P. Do muốn vay tiền của ông Đ nên P nảy sinh ý định làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của căn nhà nêu trên để thế chấp cho ông Đ. Ngày 14/6/2018, P sử dụng công cụ tìm kiếm Google để tìm người làm sổ giả thì tìm được 01 số điện thoại di động (hiện P không nhớ số), P liên hệ qua số điện thoại trên thì được một người đàn ông (không rõ nhân thân) nhận lời làm sổ giả cho P. Theo hướng dẫn của người đàn ông trên, ngày 15/6/2018, P mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 288459 do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 04/3/2011 đối với căn nhà số 91 đường Tuyên Quang đi vào quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh gặp và đưa cho người đàn ông trên. Khoảng 15 Pt sau thì người đàn ông trên quay lại và đưa cho P 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số cùng BĐ 288459 (một thật và một giả), P đưa cho người đàn ông trên 4.000.000 đồng rồi cầm 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 288459 về lại thành phố P. Đến khoảng 11 giờ ngày 16/6/2018, P đem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 288459 thật đến văn phòng công chứng P để làm hợp đồng chuyển nhượng căn nhà số 91 đường Tuyên Quang thuộc khu phố 4, phường Phú Thủy, thành phố P cho ông Nguyễn Thế Đ để đảm bảo việc vay tiền. Cùng ngày, P đem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất BĐ số 288459 thật đến Ngân hàng Quân đội MB chi nhánh tỉnh B để thế chấp, vay số tiền 2.936.000.000 đồng. Ngày 19/6/2018, ông Đ đưa cho P vay 1.500.000.000 đồng, P đưa 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 288459 mà P vừa làm giả cho ông Đ giữ để làm tin. Hai bên viết giấy xác nhận tổng cộng ba lần P vay của ông Đ là 3.000.000.000 đồng. Tháng 8/2018, P vay thêm ông Đ số tiền 500.000.000 đồng và tháng 9/2018 P tiếp tục vay thêm của ông Đ số tiền 300.000.000 đồng với lãi suất đều là 1%/tháng (cả hai khoản vay này giữa P và ông Đ đều không làm giấy tờ thể hiện cho việc vay tiền). Từ năm 2017 đến tháng 9/2018, P vay của ông Đ tổng cộng 3.800.000.000 đồng, P thực hiện việc trả lãi đầy đủ và đúng hẹn cho ông Đ. Đến tháng 12/2018, do việc làm ăn thua lỗ, P không còn khả năng trả nợ cho ông Đ nên ngày 07/01/2019, ông Đ đến Phòng tài nguyên và môi trường thành phố Pđể hỏi thủ tục chuyển quyền sử dụng đối với căn nhà số 91 đường Tuyên Quang thì bị phát hiện Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 288459 mà P đưa cho ông Đ giữ là giả. Sau đó, ông Đ đã đến trình báo và giao nộp Giấy chứng nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BĐ 288459 giả trên cho Công an thành phố P. Quá trình điều tra, P đã khai nhận hành vi của mình như trên. P khai mục đích thuê người làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 288459 là để vay tiền của ông Đ chứ không nhằm mục đích chiếm đoạt tiền của ông Đ. Hiện nay P đã trả lại cho ông Đ số tiền 2.000.000.000 đồng.
Vật chứng của vụ án: 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 288459 do Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh B cấp ngày 04/3/2011, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH 06287, có tên và chữ ký của ông Đặng Đình Hi, dấu tròn đỏ của Ủy ban nhân dân tỉnh B (thu giữ từ ông Nguyễn Thế Đ).
Tại Bản kết luận giám định số 1410/KLGĐ – PC09 ngày 31/12/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh B kết luận:
- Phôi “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” số BĐ 288459 (ký hiệu A) là giả.
- Chữ ký mang tên Đặng Đình Hi trên tài liệu mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký đứng tên Đặng Đình Hi trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M2 đến M6 là không phải do cùng một người ký.
- Hình dấu tròn có nội dung “U.B.N.D THÀNH PHỐ P, TỈNH B” trên tài liệu mẫu cần giám định ký hiệu A so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M2 đến M6 không phải do cùng một con dấu đóng (in) ra.
- Hình dấu chữ mang tên Đặng Đình Hi trên tài liệu mẫu cần giám định ký hiệu A so với hình dấu tên có cùng nội dung trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M7 không phải do cùng một con dấu đóng (in) ra.
- Chữ ký mang tên Nguyễn Ngọc H trên tài liệu mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký đứng tên Nguyễn Ngọc H trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M8 đến M12 là không phải do cùng một người ký.
- Hình dấu tròn có nội dung “VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI TỈNH B CHI NHÁNH VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI P” trên tài liệu mẫu cần giám định ký hiệu A so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M8 đến M12 không phải do cùng một con dấu đóng (in) ra.
- Hình dấu chữ mang tên Nguyễn Ngọc H trên tài liệu mẫu cần giám định ký hiệu A so với hình dấu tên có cùng nội dung trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M13 không phải do cùng một con dấu đóng (in) ra.
Xử lý vật chứng: Đối với 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 288459 giả thu giữ từ ông Nguyễn Thế Đ được lưu cùng hồ sơ vụ án để phục vụ việc xét xử.
Về dân sự: Hiện ông Nguyễn Thế Đ yêu cầu P tiếp tục trả số tiền 1.800.000.000 đồng còn lại đã vay của ông Đ, đến nay P chưa trả số tiền trên cho ông Đ.
Tại bản cáo trạng số 265/CT-VKSPT-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pđã truy tố Đoàn Quốc P về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1, Điều 341 của Bộ luật hình sự.
*Tại phiên tòa hôm nay, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 341; điểm i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Đoàn Quốc P mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
Xử lý vật chứng: Đối với 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 288459 giả thu giữ từ ông Nguyễn Thế Đ được lưu cùng hồ sơ vụ án để phục vụ việc xét xử.
Về dân sự: Hiện ông Nguyễn Thế Đ yêu cầu P tiếp tục trả số tiền 1.800.000.000 đồng còn lại đã vay của ông Đ, đến nay P chưa trả số tiền trên cho ông Đ, buộc bị cáo P trả cho ông Đ 1.800.000.000 đồng, ông Đ không yêu cầu tính lãi suất, nên không xét.
Bị cáo không trình bày lời bào chữa, không tranh luận gì với Kiểm sát viên đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như lời kết tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là đầy đủ và tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo khai nhận hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận:
Từ năm 2017 đến đầu năm 2018, Đoàn Quốc P đã vay của ông Nguyễn Thế Đ 1.500.000.000 đồng. Tháng 5/2018, do cần tiền để trả nợ và mở rộng kinh doanh nên P đã tiếp tục vay của ông Đ thêm 1.5000.000.000 đồng nhưng ông Đ yêu cầu P phải có tài sản đảm bảo cho việc vay tiền. Ngày 15/6/2018, P đem Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 288459 đối với căn nhà số 91 đường Tuyên Quang, thuộc khu phố 4, phường Phú Thủy do Ủy ban nhân dân thành phố P cấp ngày 04/3/2011 cho ông Nguyễn S (hiện đã chỉnh lý sang tên Đoàn Quốc P ) vào quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh để thuê người làm giả. Sau khi có được Giấy chứng nhận số BĐ 288459 giả, ngày 19/6/2018, P đưa tài liệu giả này cho ông Đ để vay số tiền 1.500.000.000 đồng. Đến tháng 8 và tháng 9/2018, P vay của ông Đ thêm 800.000.000 đồng. Ngày 07/9/2019, do P không còn khả năng trả nợ nên ông Đ đến Phòng Tài nguyên và môi trường thành phố P để hỏi thủ tục chuyển quyền sử dụng đối với căn nhà số 91 đường Tuyên Quang thì bị phát hiện Giấy chứng nhận số BĐ 288459 P đưa cho ông Đ giữ để đảm bảo cho việc vay tiền là giả nên ông Đ đã đến Cơ quan Công an trình báo sự việc.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của nhà nước, của tổ chức trong lĩnh vực quản lý về con dấu, tài liệu, đủ yếu tố cấu thành tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 341 BLHS năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pđã truy tố bị cáo với tội danh và khung hình phạt nêu trên là có căn cứ và đúng qui định của pháp luật.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Bị cáo là một thanh niên trưởng thành, có trình độ hiểu biết, nhận thức xã hội, Hành vi nêu trên của Đoàn Quốc P xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước về con dấu, tài liệu, là nguy hiểm cho xã hội, do đó cần phải xử lý bằng biện pháp hình sự để răn đe giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- Tình tiết tăng nặng: không có tình tiết tăng nặng.
- Tình tiết giảm nhẹ: Đoàn Quốc P phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra thành khẩn khai báo nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là có căn cứ và với mức án mà Kiểm sát viên đề nghị là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự có xem xét nhân thân của bị cáo xét thấy hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội nên việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định là cần thiết.
Đối với hành vi làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 288459 của đối tượng (không rõ nhân thân) ở quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã ra Quyết định tách vụ án hình sự đối với hành vi trên đồng thời có công văn chuyển vụ án trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục điều tra làm rõ.
[5] Xử lý vật chứng: đối với 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 288459 giả thu giữ từ ông Nguyễn Thế Đ được lưu cùng hồ sơ vụ án để phục vụ việc xét xử.
[6] Về dân sự: Hiện ông Nguyễn Thế Đ yêu cầu P tiếp tục trả số tiền 1.800.000.000 đồng còn lại đã vay của ông Đ, đến nay P chưa trả số tiền trên cho ông Đ, buộc bị cáo P trả cho ông Đ 1.800.000.000 đồng, ông Đ không yêu cầu tính lãi suất, nên không xét.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và dân sự thẩm theo quy định theo quy ñònh của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng: khoản 1, Điều 341; điểm i, s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015;
- Tuyên bố: Bị cáo Đoàn Quốc P phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
- Xử phạt: Bị cáo Đoàn Quốc P 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
- Về dân sự: Hiện ông Nguyễn Thế Đ yêu cầu P tiếp tục trả số tiền 1.800.000.000 đồng còn lại đã vay của ông Đ, đến nay P chưa trả số tiền trên cho ông Đ. Buộc bị cáo P hoàn trả cho ông Đ số tiền 1.800.000.000 đồng.
Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 01 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 02 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- Về án phí: Căn cứ khoản 02 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo Đoàn Quốc P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, và 66.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai, sơ thẩm. Bị cáo và người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (16/02/2023).
Bản án về tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức số 39/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 39/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết - Bình Thuận |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 16/02/2023 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về