TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
BẢN ÁN 38/2023/HS-ST NGÀY 09/11/2023 VỀ TỘI LÀM GIẢ TÀI LIỆU CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC
Ngày 09 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, xét xử sơ thẩm trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 34/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2023 bằng hình thức trực tuyến đối với bị cáo:
Họ và tên: Hoàng Văn A; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 10/3/1967; Tại: tỉnh Quảng Trị; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Hoàng Văn T, sinh năm: 1940 và bà: Mai Thị C (đã chết). Hiện trú tại: thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; Gia đình có 07 anh em, bị cáo là con thứ tư; Hoàn cảnh gia đình: Có vợ là Dương Thị H (đã ly hôn), sinh năm: 1967 và có 04 người con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 2003; Quá trình nhân thân: Sinh ra lớn lên ở tại thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, đi học đến lớp 6/12 thì nghỉ học sau đó lập gia đình làm nghề lái xe cho đến nay; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/4/2023 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (có mặt tại điểm cầu thành phần Phòng xử án Toà án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Võ Văn B, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có mặt).
2. Anh Phạm Văn B1, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có mặt).
3. Anh Võ C1, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có mặt).
4. Anh Võ Văn H1, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có mặt).
5. Anh Lê Văn C2, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có mặt).
6. Anh Phạm Văn C3, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có mặt).
7. Anh Võ Văn D, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có mặt).
8. Anh Võ Văn D1, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có mặt).
9. Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt).
10. Anh Võ Văn T2, sinh năm 1998; địa chỉ: Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt).
11. Chị Trịnh Thị Tuyết H2, sinh năm 1984; địa chỉ: F T, phường T, quận H, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 6 năm 2022, Hoàng Văn A (làm nghề lái xe nhưng chưa có có giấy phép lái xe hạng D và hạng FC), A đã truy cập vào mạng xã hội tìm các trang làm bằng lái xe giả thì liên hệ được với đối tượng có tên trên mạng Z là “An Nhiên làm bằng” (chưa xác định được nhân thân, lai lịch). Sau đó A đã đặt làm 02 giấy phép lái xe hạng D và hạng FC giả, với giá 1.000.000 đồng/01 giấy phép lái xe. Hoàng Văn A cung cấp các thông tin cá nhân của mình gồm (ảnh thẻ, ngày tháng năm sinh, địa chỉ, số căn cước công dân) qua mạng xã hội Zalo cho đối tượng có tên trên mạng Z là “An Nhiên làm bằng” và thỏa thuận A nhận được hàng thì mới trả tiền qua dịch vụ chuyển phát bưu phẩm. Sau thời gian ngắn, Hoàng Văn A nhận được 02 giấy phép lái xe hạng D và hạng FC giả mang tên mình. Hoàng Văn A thấy việc làm giấy phép lái xe giả dễ dàng, đồng thời nắm bắt được một số người dân ở xã P, huyện P do không biết chữ nên không đủ điều kiện để thi bằng lái xe và có nhu cầu là cần làm giấy phép lái xe mô tô hạng A1 giả để sử dụng. Vào khoảng tháng 11 năm 2022, Hoàng Văn A đã chủ động liên hệ với 10 người gồm: anh Võ Văn B (sinh năm 1977), anh Phạm Văn B1 (sinh năm 1978), anh Võ C1 (sinh năm 1977), anh Võ Văn H1 (sinh năm 1995), anh Lê Văn C2 (sinh năm 1998), anh Phạm Văn C3 (sinh năm 1998), anh Võ Văn D (sinh năm 1977), anh Võ Văn D1 (sinh năm 1978), Nguyễn Văn T1 (sinh năm 1991), anh Võ Văn T2 (sinh năm 1998), tất cả đều trú tại xã P, huyện P đề làm giấy phép lái xe môtô hạng A1 giả với giá 1.700.000 đồng/01 giấy phép lái xe thì cả 10 người nói trên đồng ý, đồng thời cung cấp thông tin cá nhân của mình gồm (ảnh, ngày tháng năm sinh, địa chỉ, số căn cước công dân) cho Hoàng Văn A. A thu trước mỗi người 500.000 đồng/01 giấy phép lái xe, số tiền còn lại 1.200.000 đồng, A sẽ tiếp tục thu khi giao giấy phép lái xe giả.
Sau khi có được thông tin cá nhân của 10 người đặt làm giấy phép lái xe hạng A1 giả, A tiếp tục truy cập vào mạng xã hội Zalo liên hệ với đối tượng “An Nhiên làm bằng” cung cấp thông tin (ảnh, ngày tháng năm sinh, địa chỉ, số căn cước công dân) của 10 người nói trên qua mạng Zalo cho đối tượng này đặt làm 10 giấy phép lái xe môtô hạng A1 giả với giá 700.000 đồng/01 giấy phép lái xe. Mỗi giấy phép lái xe giả A thu lợi 1.000.000 đồng. Ngày 19/12/2022, sau khi nhận được 10 giấy phép lái xe môtô hạng A1 giả, A điều khiển xe môtô biển kiểm soát 60B9-024.47 đi giao 08 giấy phép lái xe giả cho 08 người gồm các anh Võ C1, anh Võ Văn H1, anh Lê Văn C2, anh Phạm Văn C3, anh Võ Văn D, anh Võ Văn D1, anh Nguyễn Văn T1, anh Võ Văn T2. Riêng 02 giấy phép lái xe của anh Võ Văn B, anh Phạm Văn B1, Hoàng Văn A chưa kịp giao thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P phát hiện bắt giữ.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, Hoàng Văn A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Vật chứng thu giữ:
*Thu giữ vật chứng từ các anh Võ C1, Võ Văn H1, Lê Văn C2, Phạm Văn C3, Võ Văn D, Võ Văn D1, Nguyễn Văn T1, Võ Văn T2 08 giấy phép lái xe giả hạng A1 cụ thể: 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Võ Cương; 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Võ Văn D1; 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Phạm Văn C3; 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Võ Văn D; 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Võ Văn T2; 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Nguyễn Văn T1; 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Lê Văn C2; 01 giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Võ Văn H1.
*Thu giữ vật chứng từ Hoàng Văn A: 01 giấy phép lái xe hạng A1, số 460227893X mang tên Võ Văn B; 01 giấy phép lái xe hạng A1, số 460227893X mang tên Phạm Văn B1; 01 điện thoại di động Iphone X, màu đen đã qua sử dụng; 01 xe môtô biển kiểm soát 60B9-024.47, số khung G2PJBA917409; số máy P50FMG917413; số tiền 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng); 01 giấy phép lái xe số hạng D số 450X000982 mang tên Hoàng Văn A và 01 giấy phép lái xe hạng FC số 450X000982 mang tên Hoàng Văn A.
*Tại các Bản kết luận giám định Số 84/KL-KTHS ngày 13/3/2023; số 83/KL-KTHS ngày 24/3/2023 và số 138/KL-KTHS ngày 10/4/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Võ Văn B; Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Phạm Văn B1; Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Võ Văn H1; Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Võ Văn T2; Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Võ C1; Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Nguyễn Văn T1; Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Võ Văn D1; Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Võ Văn D; Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Phạm Văn C3; Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Lê Văn C2; Giấy phép lái xe hạng D và hạng FC cùng số 450X000982 mang tên Hoàng Văn A là: GIẤY PHÉP LÁI XE/DRIVER’ SLICENSE là giấy tờ giả.
* Về xử lý vật chứng: Tất cả số vật chứng nêu trên đang được tạm giữ, cần được chuyển đến Cơ quan thi hành dân sự huyện P đề phục vụ việc xét xử, thi hành án.
Tại bản cáo trạng số 34/CT-VKSPĐ ngày 29/9/2023, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế đã quyết định truy tố Hoàng Văn A về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm a, khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo. Đồng thời nêu ra ý kiến tranh luận, xác định tội danh của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân, cũng như các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm trách nhiệm hình sự đó là quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên đề nghị áp dụng điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đồng thời đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn A từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù. Về vật chứng: Tuyên tịch thu tiêu hủy các giấy tờ giả đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền; Trả lại cho bị cáo số tiền 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng) nhưng tạm giữ đề đảm bảo thi hành án; Tịch thu hóa giá sung công 01 điện thoại di động Iphone X, màu đen đã qua sử dụng và 01 xe môtô biển kiểm soát 60B9-024.47, số khung G2PJBA917409; số máy P50FMG917413 đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội; Ngoài ra buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ việc làm giấy tờ giả cho 10 người tương ứng số tiền (1.700.000 đồng x 8 người = 13.600.000 đồng) + (500.000 đồng x 2 người = 1.000.000 đồng) = 14.600.000 đồng đề sung quỹ nhà nước, về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo luật định.
Ý kiến tranh luận của bị cáo: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nên xin được xem xét giảm nhẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Với mục đích nhận làm giấy tờ lái xe hạng A1 giả cho người khác để bán kiếm lời, vào khoảng tháng 11 năm 2022, tại xã P, huyện P tỉnh Thừa Thiên Huế, Hoàng Văn A đã liên hệ với 10 người gồm anh Võ C1, anh Võ Văn H1, anh Lê Văn C2, anh Phạm Văn C3, anh Võ Văn D, anh Võ Văn D1, anh Nguyễn Văn T1, anh Võ Văn T2, anh Võ Văn B, anh Phạm Văn B1 nhận làm giấy phép lái xe hạng A1 giả với giá 1.700.000 đồng/01 giấy phép lái xe và yêu cầu mỗi người phải đóng trước cho Hoàng Văn A 500.000 đồng, sau khi làm xong và nhận giấy phép lái xe thì mỗi người phải đưa tiếp số tiền còn lại là 1.200.000 đồng. Sau đó, Hoàng Văn A lấy thông tin cá nhân gồm (hình ảnh, ngày tháng năm sinh, số căn căn cước công dân) của 10 người nói trên cung cấp cho 01 đối tượng có tên “An Nhiên làm bằng” qua mạng xã hội Zalo đặt làm 10 giấy phép lái xe với giá 700.000 đồng/01 giấy phép lái xe. Ngày 19/12/2023, sau khi nhận được 10 giấy phép lái xe hạng A1 giả, Hoàng Văn A đã giao cho 08 người với 08 giấy phép lái xe hạng A1 giả và nhận số tiền 9.600.000 đồng, còn 02 giấy phép lái xe hạng A1 giả, Hoàng Văn A chưa giao kịp thì thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P phát hiện bắt giữ.
[2] Hành vi của bị cáo Hoàng Văn A đã phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điềm a, khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là đúng pháp luật.
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến hoạt động bình thường của các tổ chức, cơ quan Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính được pháp luật bảo vệ và còn gây mất trật tự trị án xã hội. Bị cáo đã làm giả 12 giấy phép lái xe. Do đó, cần áp dụng điểm a khoản 3 Điều 341 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, để cải tạo giáo dục bị cáo và đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung. Xét cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đề giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng, về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xét cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng.
[4] Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 12 loại giấy tờ gồm: Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Võ Văn B; Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Phạm Văn B1; Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Võ Văn H1; Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Võ Văn T2; Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Võ C1; Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Nguyễn Văn T1; Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Võ Văn D1; Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Võ Văn D; Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Phạm Văn C3; Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Lê Văn C2; Giấy phép lái xe hạng D và hạng FC cùng số 450X000982 mang tên Hoàng Văn A tất cả giấy phép lái xe/driver’slicense là giấy tờ giả, không có giá trị nên tiêu hủy.
- Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Iphone X, màu đen đã qua sử dụng; 01 xe môtô biển kiểm soát 60B9-024.47, số khung G2PJBA917409 - số máy P50FMG917413 đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội.
- Trả lại số tiền 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng) cho Hoàng Văn A, nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Ngoài ra buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ việc làm giấy tờ giả cho 10 người tương ứng số tiền [(1.700.000 đồng X 8 người = 13.600.000 đồng) + (500.000 đồng X 2 người = 1.000.000 đồng)] = 14.600.000 đồng.
[5] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[6] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn A phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng điểm a, khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Hoàng Văn A, 03 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 12/4/2023.
về vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 12 loại giấy tờ gồm: Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Võ Văn B; Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Phạm Văn B1; Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Võ Văn H1; Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Võ Văn T2; Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Võ C1; Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Nguyễn Văn T1; Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Võ Văn D1; Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Võ Văn D; Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Phạm Văn C3; Giấy phép lái xe hạng A1 số 460227893X mang tên Lê Văn C2; Giấy phép lái xe hạng D và hạng FC cùng số 450X000982 mang tên Hoàng Văn A là: giấy phép lái xe/driver’slicense giả. Theo mô tả biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/10/2023, vật chứng đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Iphone X, màu đen đã qua sử dụng và 01 xe môtô biển kiểm soát 60B9-024.47, số khung G2PJBA917409 - số máy P50FMG917413. Theo mô tả biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/10/2023, vật chứng đang được tạm giừ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Trả lại số tiền 2.200.000 đồng (Hai triệu hai trăm nghìn đồng) cho Hoàng Văn A, theo ủy nhiệm chi lập ngày 16/10/2023 thuộc tài khoản 3949.0.1054083.00000 Tại kho bạc Nhà nước huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Buộc bị cáo phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính từ việc làm giấy tờ giả cho 10 người với số tiền 14.600.000 đồng (mười bốn triệu sáu trăm ngàn đồng) đề sung vào ngân sách Nhà nước.
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/NQ-ƯBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Hoàng Văn A phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Án xử công khai báo cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Bản án về tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức số 38/2023/HS-ST
| Số hiệu: | 38/2023/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Phong Điền - Thừa Thiên Huế |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 09/11/2023 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về