Bản án về tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức số 177/2024/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

BẢN ÁN 177/2024/HS-PT NGÀY 27/09/2024 VỀ TỘI LÀM GIẢ TÀI LIỆU CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC

Ngày 27 tháng 09 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 143/2024/TLPT-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Lê Ngọc L; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 152/2024/HS-ST ngày 27/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

- Bị cáo kháng cáo: Lê Ngọc L, sinh năm 1968 tại Lâm Đồng; giới tính: Nữ; nơi ĐKHKTT: Số G Đ, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: A14/268V xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú: Số B Lô A chung cư P, Phường D, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê T (đã chết); con bà Trương Thị C (đã chết); chồng: Phạm Ngọc T1 (đã chết); chồng: Richard John M, sinh năm 1962; con: Có 02 con, lớn nhất sinh năm 1983 và nhỏ nhất sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang tại ngoại. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo L:

1. Ông Nguyễn Phương Đại N - Công ty L2 - Đoàn Luật sư tỉnh L. Có mặt.

2. Ông Nguyễn Văn T2 - Công ty L2 - Đoàn Luật sư tỉnh L. Vắng mặt.

Trong vụ án này còn có người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, vụ án không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng năm 2020, Lê Ngọc L phát sinh tranh chấp về quyền sở hữu khu đất và nhà ở tại đường Đ, Phường C, thành phố Đ (nay là D đường L, Phường C, thành phố Đ) và quyền sử dụng tại căn nhà số A, tầng A, chung cư K, K, Phường A, thành phố Đ với ông Lê Trường S, sinh năm: 1972; (là em ruột của bà L) nên bị cáo L có viết đơn để giải quyết tranh chấp gửi đến Ủy ban nhân dân Phường C2, thành phố Đ nhưng việc giải quyết không đúng với nguyện vọng của bà L. Năm 2021, bị cáo L kể lại sự việc tranh chấp tài sản với ông Lê Trường S cho ông Phạm Ngọc T1, sinh năm 1958; HKTT: 1152/7 N, Phường T, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh (là chồng cũ của bà L) và hỏi ông T1 có cách nào để giúp không thì ông T1 nói sẽ làm các loại giấy tờ nếu tiếp tục phát sinh tranh chấp về tài sản là quyền sử dụng đất và nhà ở với ông S thì đưa những giấy tờ ông T1 làm ra để làm việc với ông S. Đến tháng 04/2021 ông T1 đưa cho bị cáo L 01 giấy thỏa thuận cam kết sau ly hôn ghi ngày 19/03/1993; 01 đơn xin cam kết tài sản riêng ghi ngày 10/01/1992; 01 giấy xác nhận giữa bà Trương Thị C (là mẹ ruột của L) và Lê Ngọc L ghi ngày 25/8/2014. Khi bà L nhận được các giấy trên từ ông T1 tại phần xác nhận của chính quyền địa phương đều đã được ký tên, đóng dấu. Tại giấy thỏa thuận cam kết sau ly hôn ghi ngày 19/03/1993 và đơn xin cam kết tài sản riêng ghi ngày 10/01/1992 tại phần người viết đơn ông T1 đã ký sẵn, bà L ký thêm tên mình vào 02 giấy trên; tại giấy xác nhận ghi ngày 25/8/2014 có nội dung bà Trương Thị C xác nhận đồng ý cho Lê Ngọc L phần nhà và đất tại D Đ, Phường C, Đ; quyền sử dụng tại căn nhà tại tầng A, căn A chung cư K, K, Phường A, thành phố Đ và được quyền mua hóa giá khi trung tâm quản lý nhà quyết định bán ghi ngày 25/8/2014 cho bị cáo L bảo quản, chưa ký tên của bà C nên bà L đã trực tiếp ký tên “Chất” vào phần người xác nhận. Tại giấy thỏa thuận cam kết sau ly hôn ghi ngày 19/03/1993 và đơn xin cam kết tài sản riêng ghi ngày 10/01/1992 đều có tài sản là căn nhà ở A P, phường C, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh nên bị cáo L nói ông Phạm Ngọc T1 làm thêm một giấy để hợp thức hóa 02 giấy tờ trên. Sau khi bị cáo L ký xong các loại giấy tờ thì ông T1 cầm lại các loại giấy tờ trên. Một thời gian sau, ông T1 giao lại 01 giấy thỏa thuận cam kết sau ly hôn ghi ngày 19/03/1993; 01 đơn xin cam kết tài sản riêng ghi ngày 10/01/1992; 01 giấy xác nhận ghi ngày 25/8/2014. Đến khoảng tháng 5 năm 2022, bà L nhận thêm 01 giấy cho tặng nhà đất ghi ngày 20/06/1993 có nội dung: ông Lê T (bố của bị cáo L) đồng ý tặng cho bị cáo L căn nhà + 800 m2 vuông đất liền kề chung quanh nhà số D Đ, Phường C, thành phố Đ, từ người giao hàng. Khi bà L nhận được giấy cho tặng nhà đất tại phần người viết đơn đã được ký sẵn, tại phần xác nhận đã được ký đóng dấu của C2, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh. Sau đó, bà L nhiều lần làm đơn tranh chấp gửi đến UBND Phường 3, thành phố Đ nhưng được trả lời khu đất tại đường D đường L, Phường C, thành phố Đ thuộc quyền sở hữu của ông Lê Trường S.

Ngày 12/03/2023, bị cáo L cầm các tài liệu giả gồm: 01 giấy thỏa thuận cam kết sau ly hôn ghi ngày 19/03/1993; 01 đơn xin cam kết tài sản riêng ghi ngày 10/01/1992; 01 giấy xác nhận ghi ngày 25/8/2014; 01 giấy cho tặng nhà đất ghi ngày 20/06/1993 đến C2, thành phố Đ để yêu cầu C2, thành phố Đ giải quyết tranh chấp đất và nhà giữa bị cáo L và ông S thì C2, thành phố Đ phát hiện báo cơ quan Công an.

Tang vật thu giữ:

- 01(một) Giấy xác nhận giữa bà Trương Thị C và bà Lê Ngọc L vào ngày 25 tháng 8 năm 2014; 01 (một) tờ khai đăng ký lại việc sinh của bà Lê Ngọc L vào ngày 25 tháng 8 năm 2014; 01 (một) Giấy cho Đất + Nhà của ông Lê T vào ngày 02 tháng 01 năm 1992 ; 01 (một) Giấy cho tặng nhà đất được Ủy ban nhân dân Phường C2, Quận H, TP Hồ Chí Minh xác nhận ngày 20 tháng 06 năm 1993; 01 (một) Giấy thoả thuận - cam kết sau ly hôn ngày 19 tháng 3 năm 1993; 01 (một) Đơn xin cam kết tài sản riêng của ông Phạm Ngọc T1 ngày 10 tháng 01 năm 1992; 01 (một) Đơn xin phép nhận tiền, nhận hàng mang tên Nguyễn Thị H do ông Phạm Ngọc T1 làm đơn ngày 24 tháng 6 năm 1985; 01 (một) Giấy chứng nhận kết hôn của ông Phạm Ngọc T1 và bà Trần Xuân Đ được ký ngày 01 tháng 12 năm 1995;

- 01 (một) CCCD mang tên Lê Ngọc L có số 068162000102 cấp ngày 06 tháng 12 năm 2022; 01 (một) hộ chiếu mang tên Lê Ngọc L có số P00724940; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu trắng có IMEI: 35539909753057.

Kết quả trưng cầu giám định:

- Ngày 30/05/2023, Cơ quan CSĐT - Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng ra quyết định trưng cầu giám định số: 217/QĐ-ĐCSKT, trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh L đề nghị giám định các nội dung sau:

+ Chữ ký của ông Dương Hải L1 và hình mẫu dấu đỏ của UBND phường C2, thành phố Đ trên các tài liệu gồm: 01 tờ khai đăng ký lại việc sinh (Ký hiệu A1); 01 công văn số 49/TB-UBND ngày 28/07/2014 (M1) do C2, thành phố Đ cung cấp có phải cùng do một người ký ra và cùng một con dấu đóng ra hay không? + Chữ ký của ông Trương Tấn T3 và hình mẫu dấu đỏ của C2, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh trên các tài liệu: 01 giấy cho tặng nhà đất của ông Lê T (Ký hiệu A2); 01 giấy khai đăng ký kết hôn của ông Trần Hữu T4 và bà Đoàn Thị T5 ngày 23/6/1993 (ký hiệu M3); 01 giấy khai đăng ký kết hôn của ông Nguyễn Bá T6 và bà Lê Thị Bạch T7 ngày 18/6/1993 (Ký hiệu M2) do C2, Quận H, thành phố Hồ Chí Minh cung cấp có phải cùng do một người ký ra và cùng một con dấu đóng ra hay không? Tại bản kết luận giám định số: 609/KL - KTHS ngày 19/07/2023 của Phòng K - Công an tỉnh L kết luận:

+ Chữ ký mang họ tên Dương Hải L1 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 so với chữ ký mang họ tên Dương Hải L1 trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1 là do cùng một người ký ra + Hình dấu tròn có nội dung “U.B.N.D PHƯỜNG 3 T.P ĐÀ LẠT T.LÂM ĐỒNG” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A1 so với hình dấu tròn có cùng nội dung trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1 là do cùng một con dấu đóng ra.

+ Chữ ký mang họ tên Trương Tấn C1 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2 so với chữ ký mang họ tên Trương Tấn C1 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M2,M3 không phải cùng một người ký ra.

+ Hình dấu tròn có nội dung “U.B.N.D PHƯỜNG 3 QUẬN 8 T.P HỒ CHÍ MINH” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A2 so với hình dấu tròn không rõ nội dung trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M2,M3 không phải do cùng một con dấu đóng ra - Ngày 01/06/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng ra quyết định trưng cầu giám định số: 222/QĐ-ĐCSKT, trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh L đề nghị giám định:

+ Chữ ký của ông Dương Hải L1 và hình mẫu dấu đỏ của UBND phường C2, thành phố Đ trên các tài liệu gồm: 01 giấy xác nhận ngày 25/08/2014 (Ký hiệu A); 01 công văn số 49/TB-UBND ngày 28/07/2014 (Ký hiệu M1) do C2, thành phố Đ cung cấp có phải cùng do một người ký ra và cùng một con dấu đóng ra hay không? Tại bản kết luận giám định số: 619/KL - KTHS ngày 19/07/2023 của Phòng K - Công an tỉnh L kết luận:

+ Chữ ký mang họ tên Dương Hải L1 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký mang họ tên Dương Hải L1 trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M không phải do cùng một người ký ra + Hình dấu tròn trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với hình dấu tròn trên tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M không phải do cùng một con dấu đóng ra.

- Ngày 7/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng ra quyết định trưng cầu giám định số: 609/QĐ-ĐCSKT, trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh L đề nghị giám định: Chữ ký mang tên Lê Kim Đ1 trên các tài liệu Giấy Thỏa thuận cam kết sau ly hôn, để ngày 19/3/1993 và đơn xin cam kết tài sản riêng (trong thời kỳ hôn nhân) để ngày 10/01/1992 so với mẫu so sánh có phải do cùng do một người ký ra hay không? Tại bản kết luận giám định số: 233/KL - KTHS ngày 15/03/2024 của Phòng K - Công an tỉnh L kết luận:

Chữ ký mang tên Lê Kim Đ1 trên các tài liệu cần giám định so với chữ ký ghi họ tên Lê Kim Đ1 trên các mẫu so sánh không phải do cùng một người ký ra.

Công văn số 06/CV - VKSĐL - LĐ ngày 02/4/2024 giữ nguyên cáo trạng số 299/CT-VKS ngày 24/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt truy tố bị cáo Lê Ngọc L về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1, điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số 152/2024/HSST ngày 27/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã xử:

Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc L phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Ngọc L 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 03/7/2024 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và không phải chấp hành hình phạt tù giam.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo, không thắc mắc, khiếu nại bản án sơ thẩm và giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Ngọc L trình bày luận cứ: Thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nguyên nhân dẫn đến việc phạm tội của bị cáo; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt, đang là người nuôi dưỡng chồng bị bệnh A và con trai bị bệnh rối loạn tâm thần không xác định, hoàn cảnh bị cáo khó khăn, bị cáo phạm tội nhưng chưa gây hậu quả nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo điểm h khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đồng thời áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo không có bào chữa bổ sung và không tranh luận gì tại lời nói sau cùng. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, bày tỏ thái độ hối hận xin Hội đồng xét xử khoan hồng.

Quá trình tranh luận, đối đáp; đại diện Viện kiểm sát, Luật sư bào chữa cũng như bị cáo giữ nguyên quan điểm như đã nêu, không làm phát sinh tình tiết nào mới.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Cơ quan tiến hành tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Đơn kháng cáo của bị cáo đúng về hình thức, nội dung, trong hạn luật định nên kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[3] Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm quy kết. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với tất cả các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Mong muốn có lợi trong việc tranh chấp quyền sử dụng đất và sở hữu các tài sản trên đất với ông Lê Trường S, bị cáo Lê Ngọc L đã cùng chồng cũ là ông Phạm Ngọc T1 làm giả các tài liệu gồm: 01 giấy cho tặng nhà đất của ông Lê T (bố của bị cáo L) có đóng dấu của UBND phường C2, thành phố Đ; 01 giấy xác nhận giữa bà Trương Thị C (mẹ ruột bị cáo) và Lê Ngọc L ghi ngày 25/8/2014 có đóng dấu của UBND phường C2, thành phố Đ; 01 đơn xin cam kết tài sản riêng được bà Lê Kim Đ1, phó chủ tịch UBND phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh ký, đóng dấu ngày 10/01/1992 và 01 giấy thỏa thuận cam kết sau ly hôn được bà Lê Kim Đ1, phó chủ tịch B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh ký, đóng dấu ngày 19/03/1993. Sau khi làm giả các tài liệu trên, ngày 12/03/2023, bị cáo đem các tài liệu trên nộp cho Ủy ban nhân dân phường C2, thành phố Đ để giải quyết tranh chấp về tài sản thì bị phát hiện, ngăn chặn.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Ngọc L phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

[4] Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của bị cáo; Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo có 1 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 do trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo xin hưởng án treo và có xuất trình tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới là kết luận khám sức khỏe tâm thần của chồng, giấy chuyển tuyến khám bệnh của con trai. Tuy nhiên, mức án cấp sơ thẩm xét xử là đảm bảo tính răn đe và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Do vậy, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm theo quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Ngọc L; giữ nguyên bản án sơ thẩm. Tuyên bố bị cáo Lê Ngọc L phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Ngọc L 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

2. Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lê Ngọc L phải chịu 200.000đ án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

80
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức số 177/2024/HS-PT

Số hiệu:177/2024/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Lâm Đồng
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 27/09/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: [email protected]
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;