TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
BẢN ÁN 30/2020/HS-ST NGÀY 29/04/2020 VỀ TỘI GIAO CẤU VỚI NGƯỜI TỪ ĐỦ 13 TUỔI ĐẾN DƯỚI 16 TUỔI
Ngày 29 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự thụ lý số: 26/2020/TLST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2020/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Quốc Ch, sinh ngày 02 tháng 7 năm 2001 tại thị trấn Gi, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ dân phố Gia Du, thị trấn Gi, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Thực và bà Trần Thị Du; vợ con: chưa có; Tiền án: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự; ngày 20 tháng 12 năm 2018 Công an huyện Bình Xuyên xử phạt 2.500.000đồng về hành vi xâm hại sức khỏe người khác, (nộp phạt ngày 14 tháng 01 năm 2019); bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 20 tháng 12 năm 2019 đến nay, “có mặt”.
- Bị hại: Cháu Lê Thị Thanh Ng, sinh ngày 19 tháng 10 năm 2004;
Nơi cư trú: Thôn Nam Nhân, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Lê Huy Q, sinh năm 1974 (bố đẻ của cháu Ng);
Nơi cư trú: Thôn Nam Nhân, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cháu Ng:
Bà Trần Thị Ng là trợ giúp viên pháp lý của trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc “có mặt”.
Bà Lê Thị H, sinh năm 1990- Luật sư, văn phòng Luật sư P thuộc đoàn Luật sư tỉnh Vĩnh Phúc “có mặt”.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Chị Trần Thị Du, sinh năm 1980 Nơi cư trú: Tổ dân phố Gia Du, thị trấn Gi, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc “có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội Du vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng cuối tháng 6 tháng 2019, Nguyễn Quốc Ch sử dụng mạng xã hội facebook với ních name “Tống Giang” nói chuyện và làm quen với ních name “Lê Thanh Ng” của cháu Lê Thị Thanh Ng, đến ngày 29 tháng 7 năm 2019, Ch và Ng nảy sinh tình cảm yêu nhau. Trong khoảng thời gian từ ngày 19 tháng 9 năm 2019 đến ngày 10 tháng 10 năm 2019, Ch và Ng đã 02 lần quan hệ tình dục với nhau, cụ thể:
Lần thứ nhất: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 19 tháng 9 năm 2019, Ch nhắn tin qua facebook rủ Ng đi chơi (lúc này Ng 14 tuổi 11 tháng), Ng đồng ý và hẹn gặp nhau vào buổi chiều cùng ngày tại cổng trường phổ thông trung học Võ Thị Sáu thuộc xã Phú Xuân, huyện Bình Xuyên. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Ch mượn xe mô tô biển kiểm soát 88E1 – X của bạn là Trần Xuân Cường, rồi đi đến cổng trường Võ Thị Sáu đón Ng. Sau đó cả hai đi chơi, đến khoảng 16 giờ cùng ngày Ch đưa Ng về nhà Ch ở tại tổ dân phố Gia Du, thị trấn Gia Khánh. Tại đây, Ch và Ng gặp mẹ Ch là chị Trần Thị Du, sau đó khoảng 10 phút chị Du có việc đi ra khỏi nhà, Ng đi vào phòng ngủ của Ch ngồi ở giường để sạc điện thoại, Ch cũng đi vào ngồi sát với Ng nói chuyện. Sau đó Ch nảy sinh ý định giao cấu với Ng nên ôm, hôn Ng được khoảng 3 phút thì Ch cởi áo sơ mi, áo lót của Ng rồi nằm ôm, hôn và xoa nắn vú của Ng, Ng đồng ý nên nằm im để Ch cởi quần áo. Sau đó Ng cởi thắt lưng cho Ch để Ch cởi quần dài, quần lót của Ng và tự cởi hết quần áo đang mặc trên người Ch ra, Ng bảo Ch tắt điện và khép cửa. Ch tắt điện khép cửa rồi nằm sấp đè lên người Ng, lúc này dương vật của Ch đã cương cứng, Ch dùng tay cho dương vật của Ch vào trong âm đạo của Ng thực hiện hành vi giao cấu khoảng 5 phút thì Ch rút dương vật ra và xuất tinh dịch lên bụng Ng sau đó Ng lau tinh dịch, cả hai mặc quần áo rồi Ch đưa Ngvề nhà.
Lần thứ hai: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 10 tháng 10 năm 2019, Ch nhắn tin qua facebook rủ Ng đi chơi (lúc này Ng 14 tuổi 11 tháng 20 ngày), Ng đồng ý và hẹn gặp nhau vào buổi chiều cùng ngày tại cổng trường phổ thông trung học Võ Thị Sáu thuộc xã Phú Xuân, huyện Bình Xuyên. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Ch mượn xe mô tô biển kiểm soát 88E1 – X của Cường đến cổng trường đón Ng. Sau đó cả hai đi chơi đến khoảng 16 giờ cùng ngày Ch đưa Ng về nhà Ch ở tại tổ dân phố Gia Du - Gia Khánh chơi. Tại đây, Ch và Ng nấu mỳ tôm ăn, sau khi ăn xong Ng đi vào phòng ngủ của Ch để sạc điện thoại còn Ch đi dọn dẹp bát đũa. Sau khi dọn dẹp xong, Ch đi vào phòng ngủ tâm sự với Ng, được khoảng 5 phút sau, Ch nảy sinh ý định giao cấu với Ng nên Ch cởi áo phông cộc tay, áo lót của Ng rồi ôm, hôn và sờ nắn vú Ng, Ch cởi áo cộc của Ch, sau đó Ng và Ch cởi quần của nhau. Ch nằm sấp lên người Ng rồi dùng tay cho dương vật của Ch vào trong âm đạo của Ng thực hiện hành vi giao cấu khoảng 7 phút thì Ng đẩy Ch ra vì sợ có thai, lúc này Ch xuất tinh dịch ra giường rồi lấy giấy lau chùi tinh dịch bám dính ở giường, cả hai mặc quần áo rồi Ch đưa Ng về nhà.
Tại Kết luận giám định số 450/TD ngày 24 tháng 10 năm 2019, Trung tâm giám định pháp y tỉnh Vĩnh Phúc kết luận: Dương vật của Nguyễn Quốc Ch cương cứng tốt và có khả năng quan hệ tình dục.
Tại Kết luận giám định số 451/TD ngày 30 tháng 10 năm 2019, Trung tâm giám định pháp y tỉnh Vĩnh Phúc kết luận đối với Lê Thị Thanh Ng:
- Màng trinh: Rách cũ ở vị trí 5 giờ và 8 giờ.
- Không tìm thấy xác tinh trùng trên 03 tiêu bản phiến đồ dịch âm hộ, âm đạo nhuộm Giemsa.
- Tổn hại sức khỏe ở thời điểm hiện tại là: 0%.
Tại bản cáo trạng số 29/CT-VKSBX ngày 29 tháng 02 năm 2020 Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố bị cáo Nguyễn Quốc Ch về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Quốc Ch về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Ch từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 20 tháng 12 năm 2019.
Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 357, 468, 584, 585, 586, 592 của Bộ luật dân sự. Xác nhận gia đình bị cáo Ch đã bồi thường thay bị cáo Ch cho bị hại số tiền 25.000.000đồng. Bị cáo còn phải bồi thường cho cháu Ng số tiền 25.000.000đồng.
Ý kiến của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại đều trình bày và xác nhận: Việc bị cáo trình bày là đúng. Bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 50.000.000đồng gồm tiền bồi thường về sức khỏe, tổn hại về danh dự nhân phẩm. Trước khi xét xử chị Trần Thị Du là mẹ đẻ bị cáo Ch đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 25.000.000đồng thay cho bị cáo Ch. Về hình phạt bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; về phần dân sự đề nghị Tòa án ghi nhận các bên đã bồi thường cho nhau số tiền 25.000.000đồng và yêu cầu bị cáo phải bồi thường nốt số tiền còn lại cho cháu Ng là 25.000.000đồng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: Chị là mẹ đẻ của bị cáo Ch, khi bị cáo Ch bị bắt tạm giam có nhờ chị đến gặp gia đình bị hại để bồi thường cho bị hại, chị có đến gặp gia đình bị hại xin bồi thường một phần số tiền 50.000.000đồng nhưng gia đình bị hại không đồng ý nhận. Trước khi xét xử chị đã bồi thường cho gia đình bị hại thay cho bị cáo Ch số tiền 25.000.000đồng. Số tiền này chị cho con trai chị để bồi thường cho bị hại nên không có yêu cầu đề nghị gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội Du vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đầy đủ, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
[2] Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Quốc Ch đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội Du Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên; cụ thể: Do có quan hệ yêu đương và được sự đồng ý, tự nguyện của cháu Lê Thị Thanh Ng, nên Nguyễn Quốc Ch đã 02 lần thực hiện hành vi giao cấu với cháu Lê Thị Thanh Ng tại giường ngủ, nhà ở của bị cáo ở tổ dân phố Gia Du, thị trấn Gi, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc (cháu Ng là người từ đủ 13 đến dưới 16 tuổi) cụ thể: Lần thứ nhất vào chiều ngày 19 tháng 9 năm 2019; lần thứ hai vào chiều ngày 10 tháng 10 năm 2019. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án như lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại…; kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở để kết luận hành vi của Nguyễn Quốc Ch đã cấu thành tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự Khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự qui định: “2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm;
a. Phạm tội 02 lần trở lên”.
[3] Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã chủ động lôi kéo người chưa đủ 16 tuổi quan hệ tình dục đã xâm phạm sự phát triển bình thường về mặt tình dục, gây ảnh hưởng xấu đến tâm sinh lý, danh dự nhân phẩm của người chưa đủ 16 tuổi được pháp luật bảo vệ. Gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự tại địa phương nên cần phải xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa Ch.
[4] Xét nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo có 01 tiền sự về hành vi xâm hại sức khỏe người khác nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mình, bất chấp quy định của pháp luật lao vào con đường phạm tội. Sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và bị cáo có tác động với gia đình bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại; tại phiên tòa bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Do vậy, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt tù tương xứng với tính chất mức độ về hành vi bị cáo đã thực hiện như mức hình phạt vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị hại, người đại diện của bị hại và bị cáo thỏa thuận: Bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại với tổng số tiền là 50.000.000đồng. Xét thấy sự thỏa thuận giữa các bên là tự nguyện phù hợp với quy định của pháp luật nên cần buộc bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại tổng số tiền 50.000.000đồng. Chị Trần Thị Du là mẹ đẻ bị cáo Ch đã tự nguyện cho bị cáo số tiền 25.000.000đồng để bồi thường cho bị hại là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần xác nhận; buộc bị cáo phải bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 25.000.000đồng.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự trong án hình sự theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc Ch phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 145; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc Ch 04 (Bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 20 tháng 12 năm 2019.
Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các Điều 357, 468, 584, 585, 586, 590, 592 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Quốc Ch phải bồi thường cho cháu Lê Thị Thanh Ng số tiền 50.000.000đồng (Năm mươi triệu). Xác nhận bị cáo Ch và gia đình bị cáo đã bồi thường cho cháu Ng số tiền 25.000.000đồng (Hai mươi lăm triệu); buộc bị cáo phải bồi thường tiếp cho cháu Ng số tiền 25.000.000đồng (Hai mươi lăm triệu).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị cáo Nguyễn Quốc Ch không thanh toán trả khoản tiền trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.
Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Quốc Ch phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm và 1.250.000đồng (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn) án phí dân sự trong án hình sự.
Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án về tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi số 30/2020/HS-ST
| Số hiệu: | 30/2020/HS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Bình Xuyên - Vĩnh Phúc |
| Lĩnh vực: | Hình sự |
| Ngày ban hành: | 29/04/2020 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về