Bản án về tội đánh bạc số 555/2021/HS-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

BẢN ÁN 555/2021/HS-PT NGÀY 16/11/2021 VỀ TỘI ĐÁNH BẠC

Ngày 16 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Ninh Bình, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm, công khai, vụ án hình sự thụ lý số 754/TLPT-HS ngày 18 tháng 09 năm 2021 đối với bị cáo Mai Duy T cùng đồng phạm phạm tội “Đánh bạc”. Do có kháng cáo của các bị cáo, đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2020/HSST ngày 04 tháng 08 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình.

1. Các Bị cáo có kháng cáo:

1.1. Mai Duy T, sinh năm 1989; nơi cư trú: Số 7, đường Hồ Xuân H, tổ 4, phường T, thành phố Đ, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn Đ và con bà Phạm Thị H; có vợ Phạm Thị Th và 03 con (một con mới sinh đầu năm 2020); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 16/12/2019 đến 25/12/2019 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình; có mặt.

1.2. Nguyễn Anh T, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số 32, ngõ 47 đường Lý Thường K, tổ 18, phường B, thành phố Đ, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; là đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, ngày 19/11/2019, trường Quân sự đã làm thủ tục chuyển sinh hoạt đảng về sinh hoạt tại Đảng bộ thành phố Đ, nhưng Nguyễn Anh T đã không nộp hồ sơ cho Đảng bộ thành phố Đ (sau đó thì bị bắt); con ông Nguyễn Văn T và con bà Đỗ Thị B; có vợ Trần Thanh H và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giam từ ngày 08/01/2020 đến nay. Hiện đang tạm giam tại tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình; có mặt.

1.3. Ngô Cẩm B, sinh năm 1992 tại tỉnh H, nơi thường trú: Số nhà 31, đường X, tổ 7, phường B, thành phố Đ, tỉnh Ninh Bình; chỗ ở: Số nhà 10, đường V, tổ 15, phường T, thành phố Đ, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn:

12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Hiệp T và con bà Huỳnh Thị N; có chồng Kiều Ngọc A và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 06/QĐ-XPHC ngày 13/01/2017, Công an phường T, thành phố Đ, tỉnh Ninh Bình xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi bán ấn phẩm khác cho việc đánh lô (Chấp hành xong ngày 16/01/2017). Bị tạm giữ từ ngày 18/12/2019 đến ngày 25/12/2019 được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đến nay; Bị cáo hiện tại ngoại; có mặt.

1.4. Phạm Thị Y, sinh năm 1960 tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Số 79, tổ 8, phường S, thành phố Đ, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Hưu trí; trình độ học vấn 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc Q và bà Đỗ Thị L; có chồng Lê Viết T (đã ly hôn), có 01 con (đã chết); tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 17/12/2019 đến ngày 25/12/2019 được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đến nay; Bị cáo hiện tại ngoại; vắng mặt.

1.5. Nguyễn Thị L, sinh năm 1959 tại tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Số 1390, tổ 11, phường S, thành phố Đ, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và con bà Nguyễn Thị C; có chồng Vũ Viết X và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 17/12/2019 đến ngày 25/12/2019 được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đến nay; Bị cáo hiện tại ngoại; có mặt.

1.6. Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1981 tại tỉnh Ninh Bình; nơi thường trú: Tổ 20, phường B, thành phố Đ, tỉnh Ninh Bình; chỗ ở: Số nhà 67, tổ 8, phường T, thành phố Đ, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc C và con bà Bùi Thị P; có vợ Phạm Thị Thúy L và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Bản án hình sự sơ thẩm số 23/2008/HSST ngày 26/9/2008 Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù, được trừ 01 tháng 09 ngày tạm giữ tạm giam, hình phạt tù còn lại là 16 tháng 21 ngày cho hưởng án treo, thời gian thử thách 32 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, phạt tiền 5.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong ngày 06/7/2010. Bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 25/12/2019 đến nay; Bị cáo hiện tại ngoại; có mặt.

1.7. Phạm Thị B, sinh năm 1991 tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Số nhà 06, tổ 3, phường T, thành phố Đ, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Đại lý xổ số; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Xuân T và con bà Lê Thị H; có chồng Nguyễn Đức Hải và 03 con (con mới sinh tháng 7/2020); tiền án: Không. Tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 154/QĐ-XPVPHC ngày 01/10/2019, Công an phường T, thành phố Đ, tỉnh Ninh Bình xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề, chấp hành xong ngày 04/10/2019. Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 41/QĐ-CA ngày 28/01/2013, Công an phường T, thị xã Đ, tỉnh Ninh Bình xử phạt 1.000.000 đồng về hành vi đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề, chấp hành xong ngày 30/01/2013. Bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 06/01/2020 đến nay; Bị cáo hiện tại ngoại; Vắng mặt.

1.8. Phạm Thị T, sinh năm 1986 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Thôn 4C, xã Đ, thành phố Đ, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Công Đ và con bà Vũ Thị H; có chồng Đồng Khắc H và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 25/12/2019 đến nay; Bị cáo hiện tại ngoại; có mặt.

1.9. Nguyễn Thị Lan H, sinh năm 1972 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Số 44, đường P, tổ 9, khu phố 6, phường L, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Hưu trí; trình độ học vấn 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và con bà Đinh Thị L; có chồng Trương Văn V và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 06/4/2020 đến nay; Bị cáo hiện tại ngoại; có mặt.

2. Ngoài ra trong vụ án còn có: Các bị cáo Phạm Thế V, Lê Thanh N, Vũ Thị S, Tạ Thị T, Cao Thị P, Vũ Văn L, Đoàn Thanh T, Dương Thế N, Nguyễn Văn N, Nguyễn Quốc T không kháng cáo, kháng nghị Toà không triệu tập.

3. Người bào chữa cho bị cáo Mai Duy T: Luật sư Đỗ Văn Hùng, Công ty Luật TNHH 559 - Đoàn luật sư thành phố Hà Nội; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Mai Duy T và Nguyễn Anh T mỗi người đứng ra cầm đầu một đường dây đánh bạc để mua bán số lô, số đề với nhau và với một số đối tượng khác trên địa bàn thành phố Đ và địa bàn huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Mai Duy T và Nguyễn Anh T đã mua trên mạng xã hội phần mềm “Lotoprovietnam - xoso” có chức năng tự xử lý dữ liệu trong các tin nhắn như phân loại giá trị số lô, số đề; gửi tin nhắn lô đề, gửi tin nhắn xác nhận; tính toán tiền trúng thưởng; tiền chênh lệch giá…cài đặt trên điện thoại di động để mua bán số lô, số đề dựa trên kết quả của các giải xổ số kiến thiết miền Bắc trong ngày, và tự thỏa thuận cách “chơi”, thắng thua với nhau như sau: Đối với hình thức số đề: Số đề là số có hai chữ số bất kỳ trong các số từ 00 đến 99. Người mua “số đề” mà trùng với hai số cuối của giải đặc biệt xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng trong ngày thì thắng (trúng thưởng) và được người bán số đề trả cho số tiền = 70 lần số tiền đã bỏ ra mua “số đề”. Trong hình thức chơi “số đề”, người chơi có thể mua một hoặc nhiều số đề riêng lẻ khác nhau; có thể mua “số đề” theo “đầu” (gồm toàn bộ các số có cùng chữ số hàng chục), mua số đề theo “đít” (gồm toàn bộ các số có cùng chữ số hàng đơn vị). Người mua phải trả tiền cho từng số đề đã mua. Đối với hình thức số lô: “Số lô” là số có hai chữ số bất kỳ trong các số từ 00 đến 99, căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc trong ngày, nếu “số lô” mà trùng với hai số cuối của các giải thưởng trong tổng số 27 giải thưởng của kết quả xổ số (gồm 01 giải Đặc biệt, 01 giải Nhất, 02 giải Nhì, 06 giải Ba, 04 giải Tư, 06 giải Năm, 03 giải sáu, 04 giải Bảy) thì thắng (trúng thưởng). Giá trị tiền mua số lô được tính theo “điểm”, khi mua, khách phải trả cho người bán số tiền là 23.000đồng/1 điểm lô, nếu trúng thì được trả cho số tiền = số điểm lô đã mua x 80.000 đồng. Nếu số lô đã mua trùng với 2 số cuối của nhiều giải trong 27 giải của kết quả xổ số với thì người bán phải trả cho khách số tiền = tất cả số lần có giải trùng hai số cuối nhân số điểm lô đã mua nhân 80.000 đồng. Người bán ghi ký hiệu là “lô” hoặc “L”. Hình thức “lô xiên”: là bộ các số có hai chữ số bất kỳ trong các số từ 00 đến 99. Nếu bộ số có 2 số được gọi là “lô xiên hai”, người bán ký hiệu là “X2” hoặc “Xiên 2”; có 3 số được gọi là “lô xiên ba”, Người bán ký hiệu là là “X3” hoặc “Xiên 3” có 4 số gọi là “lô xiên bốn”, người bán ký hiệu là là “X4” hoặc “Xiên 4”. Căn cứ kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc trong ngày, nếu toàn bộ các số trong “lô xiên” mà khách mua trùng với hai số cuối của các giải thưởng trong 27 giải thưởng xổ số thì người mua trúng thưởng và người bán phải trả tiền cho người mua “lô xiên” theo tỷ lệ: Trúng “lô xiên hai” được 10 lần số tiền bỏ ra,“lô xiên ba” được 40 lần số tiền bỏ ra, “lô xiên bốn” được 100 lần số tiền bỏ ra. Hình thức “ba càng”: Là số có ba chữ số bất kỳ trong các số từ 000 đến 999, căn cứ kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc trong ngày, nếu số “ba càng” mà khách mua trùng với 3 chữ số cuối cùng của giải đặc biệt thì khách mua trúng thưởng và người bán phải trả tiền cho khách theo tỷ lệ = 400 lần số tiền đã bỏ ra mua “ba càng”. Trong khoảng thời gian từ ngày 25/11/2019 đến ngày 16/12/2019 các bị can thực hiện nhiều hành vi “Đánh bạc” dưới hình thức mua bán số lô, số đề với nhau. Cụ thể như sau:

1. Mai Duy T sử dụng điện thoại mua và bán số lô, số đề với các đối tượng từ ngày 25/11/2019 đến ngày 16/12/2019 tổng số 22 lần:

Lần 1: Trong ngày 25/11/2019, Mai Duy T đánh bạc với 09 đối tượng tổng số tiền Thắng sử dụng vào việc Đánh bạc là 369.617.700 đồng. Mai Duy T đã thanh toán tiền thắng thua đối với Ngô Cẩm B, Phạm Thị Y, Nguyễn Thị L, Lê Thanh N và Nguyễn Thị Lan H. Số tiền Mai Duy T thắng bạc đã thanh toán là 189.180.700 đồng. Mai Duy T chưa thanh toán với các đối tượng còn lại gồm Nguyễn Anh T, Nguyễn Ngọc A, Phạm Thị T, Phạm Văn C.

Lần 2: Trong ngày 26/11/2019, Mai Duy T đánh bạc với 09 đối tượng. Tổng số tiền Thắng sử dụng vào việc Đánh bạc là 195.715.000 đồng. Mai Duy T đã thanh toán tiền thắng thua đối với Ngô Cẩm B, Phạm Thị Y, Nguyễn Thị L, Lê Thanh N, Phạm Thị T và Nguyễn Thị Lan H. Số tiền Mai Duy T thua bạc đã thanh toán là 12.649.800 đồng. Mai Duy T chưa thanh toán cho các đối tượng còn lại gồm Nguyễn Ngọc A, Phạm Văn C và Nguyễn Anh T.

Lần 3: Trong ngày 27/11/2019, Mai Duy T đánh bạc với 09 đối tượng tổng số tiền Thắng sử dụng vào việc Đánh bạc là 199.349.600 đồng, Mai Duy T đã thanh toán tiền thắng thua đối với Ngô Cẩm B, Phạm Thị Y, Nguyễn Thị L, Lê Thanh N và Nguyễn Thị Lan H. Số tiền Mai Duy T thắng bạc là 23.552.000 đồng. Các đối tượng còn lại Mai Duy T chưa thanh toán gồm Nguyễn Anh T, Nguyễn Ngọc A, Phạm Thị T, Phạm Văn C.

Lần 4: Trong ngày 28/11/2019, Mai Duy T đánh bạc với 09 đối tượng Thắng sử dụng vào việc Đánh bạc với tổng số tiền 138.690.000 đồng, Mai Duy T đã thanh toán tiền thắng thua đối với Ngô Cẩm B, Phạm Thị Y, Nguyễn Thị L, Lê Thanh N và Nguyễn Thị Lan H. Số tiền Mai Duy T thua bạc là 3.733.000 đồng. Các đối tượng còn lại Mai Duy T chưa thanh toán gồm Nguyễn Anh T, Nguyễn Ngọc A, Phạm Thị T, Phạm Văn C.

Lần 5: Trong ngày 29/11/2019 Mai Duy T đánh bạc với 09 đối tượng Thắng sử dụng vào việc Đánh bạc với tổng số tiền 318.559.000 đồng, Mai Duy T đã thanh toán tiền thắng thua đối với Ngô Cẩm B, Phạm Thị Y, Nguyễn Thị L, Lê Thanh N và Nguyễn Thị Lan H, Phạm Thế V. Số tiền Mai Duy T thua bạc là 33.223.100 đồng. Các đối tượng còn lại Mai Duy T chưa thanh toán gồm Nguyễn Anh T, Nguyễn Ngọc A, Phạm Thị T.

Lần 6: Trong ngày 30/11/2019, Mai Duy T đánh bạc với 09 đối tượng Thắng sử dụng vào việc Đánh bạc với tổng số tiền 318.559.000 đồng, Mai Duy T đã thanh toán tiền thắng thua đối với Ngô Cẩm B, Phạm Thị Y, Nguyễn Thị L, Lê Thanh N và Nguyễn Thị Lan H. Số tiền Mai Duy T thua bạc là 16.000.100 đồng. Các đối tượng còn lại Mai Duy T chưa thanh toán gồm Nguyễn Anh T, Nguyễn Ngọc A, Phạm Thị T.

Lần 7: Trong ngày 01/12/2019, Mai Duy T đánh bạc với 08 đối tượng tổng số tiềnThắng sử dụng vào việc đánh bạc là 141.359.300 đồng. Mai Duy T đã thanh toán tiền thắng thua với Phạm Thị Y, Nguyễn Thị L. Số tiền Mai Duy T thắng bạc đã thanh toán là 11.789.400 đồng. Mai Duy T chưa thanh toán với các đối tượng còn lại gồm Ngô Cẩm B, Nguyễn Ngọc A, Lê Thanh N, Nguyễn Anh T, Nguyễn Thị Lan H, Phạm Thị T.

Lần 8: Trong ngày 02/12/2019, Mai Duy T đánh bạc với 08 đối tượng, tổng số tiền 151.452.100 đồng, Mai Duy T đã thanh toán tiền thắng thua với Ngô Cẩm B, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Lan H. Số tiền Mai Duy T thắng bạc đã thanh toán là 21.768.400 đồng. Mai Duy T chưa thanh toán với các đối tượng còn lại gồm Nguyễn Ngọc A, Lê Thanh N, Phạm Văn C, Nguyễn Anh T, Phạm Thị T.

Lần 9: Trong ngày 03/12/2019, Mai Duy T đánh bạc với 08 đối tượng, tổng số tiền 235.770.700 đồng, Mai Duy T đã thanh toán tiền thắng thua với Ngô Cẩm B, Phạm Thị Y, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Lan H. Số tiền Mai Duy T thắng bạc đã thanh toán là 4.041.700 đồng. Mai Duy T chưa thanh toán với các đối tượng còn lại gồm Nguyễn Ngọc A, Lê Thanh N, Nguyễn Anh T, Phạm Thị T.

Lần 10: Trong ngày 04/12/2019, Mai Duy T đánh bạc với 10 đối tượng, tổng số tiền 412.309.200 đồng, Mai Duy T đã thanh toán tiền thắng thua với Ngô Cẩm B, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Lan H, Phạm Thị Y, Phạm Thế V, Số tiền Mai Duy T thắng bạc đã thanh toán là 7.143.900 đồng. Mai Duy T chưa thanh toán với các đối tượng còn lại gồm Nguyễn Ngọc A, Lê Thanh N, Phạm Văn C, Nguyễn Anh T, Phạm Thị T.

Lần 11: Trong ngày 05/12/2019, Mai Duy T đánh bạc với 09 đối tượng, tổng số tiền 553.158.500 đồng, Mai Duy T đã thanh toán tiền thắng thua với Ngô Cẩm B, Phạm Thị Y, Nguyễn Thị L, Lê Thanh N, Nguyễn Thị Lan H. Số tiền Mai Duy T thắng bạc đã thanh toán là 91.726.100 đồng. Mai Duy T chưa thanh toán với các đối tượng còn lại gồm Nguyễn Anh T, Nguyễn Ngọc A, Phạm Thế V, Lê Thanh N, Phạm Thị T.

Lần 12: Trong ngày 06/12/2019, Mai Duy T đánh bạc với 08 đối tượng, tổng số tiền 397.583.200 đồng, Mai Duy T đã thanh toán tiền thắng thua với Ngô Cẩm B, Phạm Thị Y, Nguyễn Thị L, Phạm Văn Việt, Nguyễn Thị Lan H. Số tiền Mai Duy T thắng bạc đã thanh toán là 105.716.600 đồng. Mai Duy T chưa thanh toán với các đối tượng còn lại gồm Nguyễn Anh T, Nguyễn Ngọc A, Phạm Thị T.

Lần 13: Trong ngày 07/12/2019, Mai Duy T đánh bạc với 08 đối tượng, tổng số tiền 450.968.200 đồng, Mai Duy T đã thanh toán tiền thắng thua với Ngô Cẩm B, Phạm Thị Y, Nguyễn Thị L. Số tiền Mai Duy T thắng bạc đã thanh toán là 18.341.200 đồng. Mai Duy T chưa thanh toán với các đối tượng còn lại gồm Nguyễn Anh T, Nguyễn Ngọc A, Phạm Thị T, Nguyễn Thị Lan H, Phạm Văn C.

Lần 14: Trong ngày 08/12/2019, Mai Duy T đánh bạc với 07 đối tượng, tổng số tiền 180.090.900 đồng, Mai Duy T đã thanh toán tiền thắng thua với Ngô Cẩm B, Phạm Thị Y, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Lan H. Số tiền Mai Duy T thắng bạc đã thanh toán là 37.060.200 đồng. Mai Duy T chưa thanh toán với các đối tượng còn lại gồm Phạm Văn Nghị, Nguyễn Ngọc A, Phạm Thị T.

Lần 15: Trong ngày 09/12/2019, Mai Duy T đánh bạc với 07 đối tượng, tổng số tiền 302.090.200 đồng, Mai Duy T đã thanh toán tiền thắng thua với Ngô Cẩm B, Phạm Thị Y, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Lan H. Số tiền Mai Duy T thắng bạc đã thanh toán là 30.388.000 đồng. Mai Duy T chưa thanh toán với các đối tượng còn lại gồm Nguyễn Anh T, Nguyễn Ngọc A, Phạm Thị T.

Lần 16: Trong ngày 10/12/2019, Mai Duy T đánh bạc với 07 đối tượng, tổng số tiền 1.731.423.200 đồng, Mai Duy T đã thanh toán tiền thắng thua với Ngô Cẩm B, Phạm Thị Y, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Lan H. Số tiền Mai Duy T thắng bạc đã thanh toán là 304.000 đồng. Mai Duy T chưa thanh toán với các đối tượng còn lại gồm Nguyễn Anh T, Nguyễn Ngọc A, Phạm Thị T.

Lần 17: Trong ngày 11/12/2019, Mai Duy T đánh bạc với 07 đối tượng, tổng số tiền 205.342.200 đồng, Mai Duy T đã thanh toán tiền thắng thua với Ngô Cẩm B, Phạm Thị Y, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Lan H. Số tiền Mai Duy T thắng bạc đã thanh toán là 6.337.200 đồng. Mai Duy T chưa thanh toán với các đối tượng còn lại gồm Nguyễn Anh T, Nguyễn Ngọc A, Phạm Thế V.

Lần 18: Trong ngày 12/12/2019, Mai Duy T đánh bạc với 7 đối tượng, tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 597.920.700 đồng, Mai Duy T đã thanh toán tiền thắng thua đối với Ngô Cẩm B, Nguyễn Thị L, và Nguyễn Thị Lan H. Số tiền Mai Duy T thắng bạc là 3.640.000 đồng. Các đối tượng con lại; Nguyễn Anh T, Nguyễn Ngọc A, Phạm Thị T, Phạm Thị Y chưa thanh toán.

Lần 19: Trong ngày 13/12/2019, Mai Duy T đánh bạc với 7 đối tượng, tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 133.351.500 đồng, Mai Duy T đã thanh toán tiền thắng thua đối với Ngô Cẩm B, Nguyễn Thị L, và Nguyễn Thị Lan H. Số tiền Mai Duy T thắng bạc là 29.844.000 đồng. Các đối tượng Nguyễn Anh T, Nguyễn Ngọc A, Phạm Thị T, Phạm Thị Y chưa thanh toán.

Lần 20: Trong ngày 14/12/2019, Mai Duy T đánh bạc với 7 đối tượng, tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 259.878.000 đồng. Mai Duy T đã thanh toán tiền thắng thua đối với Ngô Cẩm B, Nguyễn Thị Lan H. Số tiền Mai Duy T thắng thua là 13.701.700 đồng. Các đối tượng còn lại Nguyễn Anh T, Nguyễn Ngọc A, Phạm Thị T, Phạm Thị Y, Nguyễn Thị L chưa thanh toán.

Lần 21: Trong ngày 15/12/2019, Mai Duy T đánh bạc với 8 đối tượng, tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 1.334.255.900 đồng. Mai Duy T đã thanh toán tiền thắng thua đối với Ngô Cẩm B, Nguyễn Thị Lan H, Phạm Thế V. Số tiền Mai Duy T thắng thua là 214.268.100 đồng.Các đối tượng còn lại Nguyễn Anh T, Nguyễn Ngọc A, Phạm Thị T, Phạm Thị Y, Nguyễn Thị L chưa thanh toán.

Lần 22: Trong ngày 16/12/2019, Mai Duy T đánh bạc với 7 đối tượng với tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 535.859.700 đồng, Mai Duy T bị thua 10.700.100 đồng và chưa thanh toán với ai.

Từ ngày 25/11/2019 đến 16/12/2019, bị can Mai Duy T đã thực hiện hành vi đánh bạc 22 lần với tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 8.991.517.500 đồng, trong đó số tiền sử dụng trong mỗi lần đánh bạc đều từ 50.000.000 đồng trở lên. Mai Duy T đã thanh toán tiền thắng bạc với Yến, L, Hương và thanh toán tiền thua bạc với Bình, Nghị, Việt. Mai Duy T thắng được 131.698.300 đồng, còn lại Thắng thỏa thuận với các đối tượng chốt tiền lô, đề hàng ngày đối trừ sau nhiều ngày thanh toán tiền một lần nên chưa thanh toán.

2. Nguyễn Anh T: Sử dụng số điện thoại 0329510959 từ ngày 25/11/2019 đến 16/12/2019 đã mua, bán số lô, số đề với Mai Duy T 21 lần với tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 4.413.289.700 đồng như đã nêu trên, ngoài ra Tuấn còn mua bán số lô, số đề với các đối tượng khác trong ngày 16/12/2019 cụ thể như sau: Lê Thanh N chuyển bán số lô, số đề cho Tuấn với số tiền là 30.539.300 đồng, tiền thực trả 28.229.700 đồng, số tiền trúng thưởng là 26.830.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 55.059.700 đồng. Tuấn thắng được 1.399.700 đồng; Vũ Văn L chuyển bán số lô, số đề cho Tuấn với số tiền là 773.369.500 đồng, tiền thực trả 651.421.000 đồng, số tiền trúng thưởng là 192.000.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 843.421.000 đồng. Tuấn thắng được 459.421.000 đồng; Phạm Thị B chuyển bán số lô, số đề cho Tuấn với số tiền là 38.551.900 đồng, tiền thực trả 36.298.900 đồng, số tiền trúng thưởng là 31.510.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 67.808.900 đồng. Tuấn thắng được 4.788.900 đồng; Cao Thị P chuyển bán số lô, số đề cho Tuấn với số tiền là 37.466.500 đồng, tiền thực trả 30.654.400 đồng, số tiền trúng thưởng là 26.300.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 56.954.400 đồng. Tuấn thắng được 4.354.400 đồng; Vũ Thị S chuyển bán số lô, số đề cho Tuấn với số tiền là 53.937.600 đồng, tiền thực trả 41.744.200 đồng, số tiền trúng thưởng là 64.400.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 106.144.200 đồng, Tuấn thắng được 22.655.800 đồng. Nguyễn Anh T chuyển bán số lô, số đề cho các đối tượng: Vũ Văn L nhận bảng mua số lô, số đề của Tuấn với số tiền là 6.000.000 đồng, tiền thực trả 4.920.000 đồng số tiền trúng thưởng là 8.000.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 12.920.000 đồng, Tuấn bị thua 3.080.000 đồng; Đoàn Thanh T nhận bảng mua số lô, số đề của Tuấn với số tiền là 223.342.000 đồng, tiền thực trả là 194.678.800 đồng, số tiền trúng thưởng là 76.080.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 270.758.800 đồng. Tuấn bị thua 118.598.800; Ngày 16/12/2019, Nguyễn Anh T đánh bạc với tổng số tiền 1.413.067.000 đồng, Thắng thắng được 370.936.000 đồng, chưa thanh toán. Từ ngày 25/11/2019 đến 16/12/2019 Nguyễn Anh T đánh bạc 21 lần với tổng số tiền là 5.826.356.700 đồng, trong đó: 11 lần đánh bạc số tiền từ 50.000.000 đồng trở lên, 10 lần đánh bạc số tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng Nguyễn Anh T đều chưa thanh toán tiền thắng thua.

3. Ngô Cẩm B sử dụng số điện thoại 0961885210 từ ngày 25/11/2019 đến 16/12/2019 đã tham gia đánh bạc tổng số 22 lần với Mai Duy T với số tiền là 926.114.100 đồng như đã nêu trên. Ngoài ra cũng trong ngày 16/12/2019 Ngô Cẩm B còn mua, bán số lô, số đề với các đối tượng: Nguyễn Ngọc A chuyển bán số lô, số đề cho Bình với số tiền là 16.295.000 đồng, tiền thực trả 16.000.000 đồng, số tiền trúng thưởng được 9.600.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 25.600.000 đồng, Bình thắng được 6.400.000 đồng; Phạm Thị T nhận bảng mua số lô, số đề của Bình với số tiền là 23.870.000 đồng, tiền thực trả là 23.870.000 đồng, số tiền trúng thưởng là 20.000.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 43.870.000 đồng, Bình Thắng được 3.870.000 đồng; Vũ Văn Khôi nhận bảng mua số lô, số đề của Bình với số tiền là 4.950.000 đồng, tiền thực trả 3.123.000 đồng, không trúng thưởng. Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 3.123.000 đồng, Bình bị thua 3.123.000 đồng. Như vậy, từ ngày 25/11/2019 đến 16/12/2019, bị can Ngô Cẩm B đánh bạc tổng số 22 lần với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 998.707.100 đồng trong đó, 07 lần đánh bạc với số tiền trong một lần từ 50.000.000 đồng trở lên;

12 lần đánh bạc với số tiền trong một lần từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng, 03 lần đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000 đồng. Bình đã thanh toán tiền thắng bạc với Thắng đến ngày 15/12/2019 là 77.286.300 đồng, còn lại chưa thanh toán.

4. Phạm Thị Y sử dụng số điện thoại 0968677668 từ ngày 25/11/2019 đến 16/12/2019 trong đó đánh bạc với Mai Duy T 22 ngày với tổng số tiền là 822.076.800 đồng, ngoài ra Yến còn mua và bán số lô, số đề với các đối tượng khác cụ thể như sau: Phạm Thị Y nhận bảng mua số lô, số đề của: Ngày 13/12/2019 Phạm Thị M chuyển bán số lô, số đề cho Yến với số tiền là 290.000 đồng, không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc là 290.000 đồng, Yến thắng 290.000 đồng; Ngày 14/12/2019 Phạm Thị M chuyển bán số lô, số đề cho Yến với số tiền là 330.000 đồng, không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc 330.000 đồng, Yến thắng 330.000 đồng; Ngày 15/12/2019 Phạm Thị M chuyển bán số lô, số đề cho Yến với số tiền là 160.000 đồng, không trúng thưởng. Tổng số tiền đánh bạc 160.000 đồng, Yến thắng 160.000 đồng; Ngày 16/12/2019 Vũ Thị S chuyển bán số lô, số đề cho Yến với số tiền là 13.418.000 đồng, tiền thực trả 10.758.500 đồng , số tiền trúng thưởng là 5.100.000 đồng, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 15.858.500 đồng Yến thắng 5.658.500 đồng; Phạm Thị M chuyển bán số lô, số đề cho Yến với số tiền là 75.000 đồng, không trúng thưởng, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 75.000 đồng, Yến thắng được 75.000 đồng; Nguyễn Văn Hà chuyển bán số lô, số đề cho Yến với số tiền là 643.000 đồng, không trúng thưởng, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 643.000 đồng. Yến thắng được 643.000 đồng; Nguyễn Đức Tr chuyển bán số lô, số đề cho Yến với số tiền là 3.040.000 đồng, không trúng thưởng, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 3.040.000 đồng, Yến thắng được 3.040.000 đồng. Từ ngày 25/11/2019 đến 16/12/2019 bị can Phạm Thị Y đánh bạc tổng số 22 lần có tổng số tiền là 842.473.300 đồng, trong đó có 08 lần đánh bạc với số tiền trong một lần từ 50.000.000 đồng trở lên; có 14 lần đánh bạc với số tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng đã thanh toán tiền thua bạc với T đến ngày 10/12/2019 là 301.571.000 đồng, còn lại chưa thanh toán.

5. Nguyễn Thị L sử dụng số điện thoại 0865939507 từ ngày 25/11/2019 đến 16/12/2019 đánh bạc với Mai Duy T 22 lần với số tiền là 782.433.800 đồng như đã nêu trên. Ngoài ra trong ngày 16/12/2019 Nguyễn Thị L còn mua bán số lô, số đề với các đối tượng khác, cụ thể như sau: Dương Thế N chuyển bán số lô, số đề cho L với số tiền là 5.200.000 đồng, tiền thực trả là 4.450.000 đồng, số tiền trúng thưởng là 1.600.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 6.050.000 đồng, L thắng 2.850.000 đồng; Nguyễn Thị Kim D chuyển bán số lô, số đề cho L với số tiền là là 475.000 đồng, số tiền trúng thưởng là 350.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 825.000 đồng, L thắng 125.000 đồng; Phạm Văn D chuyển bán số lô, số đề cho L với số tiền là là 690.000 đồng, không trúng thưởng. Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 690.000 đồng, L thắng 690.000 đồng; Trịnh Trường S chuyển bán số lô, số đề cho L với số tiền là 310.000 đồng, không trúng thưởng, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 310.000 đồng, L thắng 310.000 đồng. Từ ngày 25/11/2019 đến 16/12/2019, bị can Nguyễn Thị L đánh bạc tổng số 22 lần với tổng số tiền là 790.308.800 đồng. Trong đó 06 lần đánh bạc với số tiền trong một lần từ 50.000.000 đồng trở lên; 15 lần đánh bạc với số tiền trong một lần từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; 01 lần đánh bạc dưới 5.000.000 đồng. L đã thanh toán tiền thắng bạc với Dương Thế N 1.380.000 đồng và tiền thua bạc với Mai Duy T đến ngày 13/12/2019 là 17.810.200 đồng các đối tượng còn lại L chưa thanh toán.

6. Nguyễn Ngọc A sử dụng số điện thoại 0975216107 từ ngày 25/11/2019 đến 16/12/2019 tham gia đánh bạc tổng số 22 lần với Mai Duy T với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 703.678.700 đồng như đã nêu trên, trong đó có 02 lần đánh bạc với số tiền trong một lần từ 50.000.000 đồng trở lên; 20 lần đánh bạc với số tiền trong một lần từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng và bị thua 24.474.800 đồng chưa thanh toán.

7. Phạm Thị B đánh bạc 1 lần ngày 16/12/2019. Cụ thể: Phạm Thị B chuyển bán số lô, số đề cho Nguyễn Anh T với số tiền là 38.551.900 đồng, tiền thực trả 36.298.900 đồng, số tiền trúng thưởng là 31.510.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 67.808.900 đồng. B bị thua 4.788.900 đồng, chưa thanh toán.

8. Phạm Thị T sử dụng số điện thoại 0971296285 từ ngày 25/11/2019 đến 16/12/2019 đánh bạc tổng số 22 lần đánh bạc với Mai Duy T với số tiền sử dụng đánh bạc là 156.728.800 đồng như đã nêu trên. Ngoài ra, ngày 16/12/2019 Phạm Thị T còn nhận bảng mua số lô, số đề của Ngô Cẩm B với số tiền là 23.870.000 đồng, tiền thực trả 23.870.000 đồng, số tiền trúng thưởng là 20.000.000 đồng, tổng tiền sử dụng để đánh bạc là 43.870.000 đồng, T bị thua 3.870.000 đồng. Từ ngày 25/11/2019 đến 16/12/2019, bị can Phạm Thị T đánh bạc tổng số 22 lần với tổng số tiền là 200.508.800 đồng. Trong đó có 12 lần đánh bạc với số tiền trong một lần từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; 10 lần đánh bạc dưới 5.000.000 đồng. T chưa thanh toán tiền thắng thua.

9. Nguyễn Thị Lan H từ ngày 25/11/2019 đến 16/12/2019 đã tham gia đánh bạc với Mai Duy T, tổng số 22 lần với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 80.036.700 đồng. Trong đó có 05 lần đánh bạc với số tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; 17 lần đánh bạc dưới 5.000.000 đồng việc thanh toán tiền thắng thua đến ngày15/12/2019 H đã trả T 8.436.400 đồng, ngày 16/12/2019 chưa thanh toán.

Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn chứng minh hành vi tham gia đánh bạc của các bị cáo, cụ thể: Lê Thanh N từ ngày 25/11/2019 đến 16/12/2019 đã tham gia đánh bạc tổng số 13 lần, với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 794.313.620 đồng; Phạm Thế V đánh bạc với Mai Duy T tổng số 06 lần với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 411.197.000 đồng; Vũ Thị S, sinh năm 1961 từ ngày 11/12/2019 đến ngày 16/12/2019 đã tham gia đánh bạc 05 lần, với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 228.040.600 đồng; Vũ Văn L đánh bạc 01 lần vào ngày 16/12/2019 với số tiền là 856.411.000 đồng, bị thua 462.501.000 đồng, chưa thanh toán; Đoàn Thanh T đánh bạc 01 lần vào ngày 16/12/2019, với tổng số tiền là 279.628.300 đồng, thắng được 121.068.300 đồng, chưa thanh toán; Tạ Thị T đánh bạc 01 lần vào ngày 16/12/2019 với tổng số tiền là 137.901.380 đồng, thắng được 21.018.620 đồng, chưa thanh toán; Vũ Thị S (sinh năm 1970) đánh bạc 1 lần ngày 16/12/2019 tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 15.858.500 đồng. Sáu bị thua 5.658.500 đồng, chưa thanh toán; Nguyễn Thị H đánh bạc 1 lần, ngày 16/12/2019 tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 15.788.120 đồng. Huyên thắng được 1.311.880 đồng, chưa thanh toán; Nguyễn Văn N đánh bạc 1 lần ngày 16/12/2019 tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 13.058.500 đồng chưa thanh toán. Nam bị thua 1.858.500 đồng, chưa thanh toán; Nguyễn Quốc T đánh bạc 1 lần ngày 16/12/2019, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 5.948.000 đồng. Thành thắng được 1.052.000 đồng chưa thanh toán; Dương Thế N đánh bạc 1 lần ngày 16/12/2019, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 6.050.000 đồng, Ngữ bị thua 2.850.000 đồng, chưa thanh toán; Cao Thị P đánh bạc 1 lần ngày 16/12/2019, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 56.954.400 đồng. Phương bị thua 4.354.400 đồng, chưa thanh toán; Lê Thị H đánh bạc 1 lần ngày 16/12/2019, tổng số tiền sử dụng để đánh bạc là 7.048.500 đồng. H bị thua 768.500 đồng, chưa thanh toán.

Quá trình điều tra, các bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2020/HSST ngày 04 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình, đã quyết định:

Tuyên bố: Các bị cáo Mai Duy T, Nguyễn Anh T, Ngô Cẩm B, Phạm Thị Y, Nguyễn Thị L, Nguyễn Ngọc A, Phạm Thị B, Phạm Thị T, Nguyễn Thị Lan H phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự. xử phạt bị cáo Mai Duy T 54 (Năm mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ tạm giữ 16/12/2019, phạt tiền bổ sung 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Ngô Cẩm B 48 (Bốn mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 18/12/2019 đến ngày 25/12/2019, phạt tiền bổ sung 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L 48 (Bốn mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 17/12/2019 đến ngày 25/12/2019, phạt tiền bổ sung 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị Y 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 17/12/2019 đến ngày 25/12/2019, phạt tiền bổ sung 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ tạm giam 08/01/2020, phạt tiền bổ sung 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc A 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, phạt tiền bổ sung 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị T 30 (Ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, phạt tiền bổ sung 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; các điểm n, s khoản 1 Điều 51; Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thị B 24 (Hai mươi tư) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, phạt tiền bổ sung 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Lan H 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, phạt tiền bổ sung 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt đối với Lê Thanh N, Vũ Văn L, Phạm Thế V, Tạ Thị T, Đoàn Thanh T, Vũ Thị S (sinh năm 1961), Cao Thị P, Nguyễn Thị H, Nguyễn Quốc T, Lê Thị H, Nguyễn Văn N, Vũ Thị S (sinh năm 1970), Dương Thế N; Về các biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 05/8/2020, bị cáo Mai Duy T kháng cáo xin giảm hình phạt và giảm số tiền truy thu.

Ngày 13/8/2020, bị cáo Ngô Cẩm B, bị cáo Phạm Thị T kháng cáo xin giảm hình phạt và giảm số tiền truy thu.

Ngày 13/8/2020, bị cáo Nguyễn Thị Lan H kháng cáo xin giảm hình phạt và xin được cải tạo tại địa phương.

Ngày 14/8/2020, bị cáo Nguyễn Anh T kháng cáo xin giảm hình phạt.

Ngày 14/8/2020, bị cáo Nguyễn Ngọc A kháng cáo xin giảm hình phạt và giảm số tiền truy thu.

Ngày 17/8/2020, bị cáo Phạm Thị Y, bị cáo Nguyễn Thị L kháng cáo xin giảm hình phạt và giảm số tiền truy thu.

Ngày 17/8/2020, bị cáo Phạm Thị B kháng cáo xin giảm hình phạt và xin được cải tạo tại địa phương.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo Mai Duy T, Ngô Cẩm B, Phạm Thị T, Nguyễn Thị Lan H, Nguyễn Anh T, Nguyễn Ngọc A, Phạm Thị B, Nguyễn Thị L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm quy kết là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; các bị cáo giao nộp chứng cứ mới đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ, trình bày hoản cảnh khó khăn, là lao động chính, bố mẹ già yếu, mong Tòa án cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; bị cáo Mai Duy T đề nghị được nhận lại số tiền đã thu giữ.

Bị cáo Phạm Thị Y có kháng cáo nhưng vắng mặt tại phiên tòa.

Luật sư bào chữa cho bị cáo Mai Duy T: ngoài tình tiết giảm nhẹ đã được áp dụng, bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ mới, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo xuống mức thấp nhất, giao trả lại số tiền đã thu giữ cho gia đình bị cáo vì không liên quan hành vi phạm tội.

Đi diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ, vai trò, hậu quả hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và căn cứ kháng cáo của các bị cáo, kết luận: các bị cáo Mai Duy T, Ngô Cẩm B, Phạm Thị T, Nguyễn Anh T, Nguyễn Ngọc A, Phạm Thị Y, Nguyễn Thị L, Phạm Thị B bị xử phạt về tội Đánh bạc theo điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Thị Lan H bị xử phạt về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với các bị cáo: Mai Duy T, Ngô Cẩm B, Nguyễn Anh T, Phạm Thị Y, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Lan H; Chấp nhận một phần kháng cáo và sửa bản án sơ thẩm, giảm một phần hình phạt cho bị cáo Phạm Thị T từ 09 đến 12 tháng tù, bị cáo Nguyễn Ngọc A từ 06 đến 09 tháng tù, bị cáo Phạm Thị B 03 tháng tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đơn kháng cáo của các bị cáo gửi trong thời hạn luật định, được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Tại phiên tòa vắng mặt bị cáo Phạm Thị Y, Hội đồng xét xử căn cứ điểm c Khoản 1 Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo B theo quy định.

[2]. Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Mai Duy T, Ngô Cẩm B, Phạm Thị T, Nguyễn Anh T, Nguyễn Ngọc A, Phạm Thị B, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Lan H thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã quy kết. Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với nhau, phù hợp lời khai nhận tội của các bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm; phù hợp lời khai nhận tội của bị cáo Phạm Thị Y; phù hợp lời khai của 13 (mười ba) bị cáo khác trong cùng vụ án nhưng không có kháng cáo, kháng nghị; phù hợp lời khai của người làm chứng, biên bản tạm giữ, niêm phong, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử phúc thẩm thống nhất với nhận xét và kết luận của Tòa án cấp sơ thẩm như sau: Trong thời gian từ ngày 25/11/2019 đến 16/12/2019, Mai Duy T, Nguyễn Anh T cùng các bị cáo trong vụ án đã sử dụng điện thoại được cài đặt phần mềm “Lotoprovn-xoso”, có chức năng tự xử lý dữ liệu trong các tin nhắn như phân loại giá trị số lô, số đề; gửi tin nhắn lô đề, gửi tin nhắn xác nhận; tính toán tiền trúng thưởng; tiền chênh lệch giá…để đánh bạc trái phép dưới hình thức mua bán số lô, số đề hoạt động trên địa bàn thành phố Đ, tỉnh Ninh Bình và địa bàn giáp ranh. Sau khi thu nhận bảng số lô, số đề của nhiều người, T và Tu tự cân đối số tiền trong các bảng ghi số lô, số đề hàng ngày, sau đó Thắng và Tuấn giữ lại một lượng tiền lớn trong bảng ghi số lô, số đề để trực tiếp thanh toán với người đánh bạc đã nhắn tin nộp bảng ghi số lô, số đề, còn một phần số tiền của bảng ghi số lô, số đề, giữa T và Tu có thể sang chuyển cho nhau, nhằm mục đích thu lợi bất chính. Cụ thể: Mai Duy T đã 22 lần mua bán số lô, số đề với tổng số tiền là 10.060.612.700 đồng, số tiền mỗi lần đều từ 50.000.000 đồng trở lên; Nguyễn Anh T đã 21 lần mua bán số lô, số đề với tổng số tiền là 6.656.787.500 đồng, trong đó 11 lần có số tiền từ 50.000.000 đồng trở lên và 10 lần có số tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; Ngô Cẩm B đã 19 lần mua bán số lô, số đề với tổng số tiền là 1.112.587.000 đồng, trong đó 07 lần có số tiền từ 50.000.000 đồng trở lên và 12 lần có số tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; Phạm Thị Y đã 22 lần mua bán số lô, số đề với tổng số tiền là 1.001.957.800 đồng, trong đó 08 lần có số tiền từ 50.000.000 đồng trở lên và 14 lần có số tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; Nguyễn Thị L đã 21 lần mua bán số lô, số đề, với tổng số tiền là 875.111.000 đồng, trong đó 06 lần có số tiền từ 50.000.000 đồng trở lên và 15 lần có số tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; Nguyễn Ngọc A đã 22 lần mua bán số lô, số đề với tổng số tiền là 754.484.600 đồng, trong đó 02 lần có số tiền từ 50.000.000 đồng trở lên và 20 lần có số tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; Phạm Thị T đã 12 lần mua bán số lô, số đề với tổng số tiền là 187.235.800 đồng, trong đó 01 lần có số tiền trên 50.000.000 đồng và 11 lần có số tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng; Phạm Thị B ngày 16/12/2019 đã mua bán số lô, số đề 01 lần với số tiền là 70.061.900 đồng. Hành vi mua bán số lô, số đề trái phép của các bị cáo với số tiền mỗi lần 50.000.000 đồng trở lên của Mai Duy T, Nguyễn Anh T, Ngô Cẩm B, Phạm Thị Y, Nguyễn Thị L, Nguyễn Ngọc A, Phạm Thị T, Phạm Thị B đã phạm tội “Đánh bạc”, với tình tiết định khung “tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên” theo điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Lan H đã mua bán số lô, số đề 05 lần có số tiền từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng với tổng số tiền là 42.800.400 đồng, đã phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình xử phạt 09 (chín) bị cáo theo tội danh, điểm, khoản, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Đi với hành vi mua bán số lô, số đề trái phép của 13 (mười ba) bị cáo trong cùng vụ án gồm: Lê Thanh N, Vũ Văn L, Phạm Thế V, Tạ Thị T, Đoàn Thanh T, Vũ Thị S (sinh năm 1961), Cao Thị P, Nguyễn Thị H, Nguyễn Quốc T, Lê Thị H, Nguyễn Văn N, Vũ Thị S (sinh năm 1970), Dương Thế N đã bị xét xử và xử phạt về tội: “Đánh bạc” theo điểm, khoản, điều luật tương ứng với hành vi phạm tội của mỗi bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo đều không có kháng cáo và không bị kháng nghị, vì vậy, bản án sơ thẩm đã có hiệu lực.

[3]. Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, các bị cáo đánh bạc với quy mô nhiều người, số tiền dùng vào việc đánh bạc lớn, diễn ra liên tục trong thời gian nhiều ngày, coi thường pháp luật, gây ra nhiều bức xúc trong đời sống nhân dân, nguyên nhân gây ra nhiều loại tệ nạn khác. Vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo đã mua bán số lô, số đề trái phép nhằm mục đích thu lợi bất chính. Bị cáo Mai Duy T và bị cáo Nguyễn Anh T có vai trò chính, các bị cáo khác trong vụ án đồng phạm với vai trò tích cực. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết tăng nặng đối với Mai Duy T, Nguyễn Anh T, Ngô Cẩm B, Phạm Thị Y, Nguyễn Thị L, Nguyễn Ngọc A, Phạm Thị T, Nguyễn Thị Lan H phạm tội từ hai lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là có căn cứ; bị cáo Nguyễn Ngọc A, Ngô Cẩm B, Phạm Thị B có nhân thân xấu. Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ như: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mai Duy T tích cực tham gia mọi hoạt động khu dân cư, năm 2014 đã có hành vi cứu giúp người bị ngã xuống giếng; bố đẻ tham gia quân đội tại chiến trường B, C được tặng Kỷ niệm chương chiến sĩ Trường Sơn, mẹ đẻ bị xơ gan, thoát vị đĩa đệm cột sống và được tặng Kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục, vợ mới sinh con, là lao động chính tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nguyễn Anh T tham gia quân đội nhiều năm là Chiến sĩ thi đua cơ sở, được tặng Bằng khen của Bộ trưởng Bộ quốc phòng và Chính ủy Quân đoàn 1, được nhận Huy chương Chiến sĩ vẻ vang hạng Ba, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính tại điểm v khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngô Cẩm B có hoàn cảnh gia đình khó khăn, tháng 4/2020 bị cáo Bình đang mang thai tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình. Phạm Thị Y có hoàn cảnh khó khăn, nhiều tuổi sức yếu, bố đẻ được tặng Huy chương kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ hạng Nhất tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nguyễn Thị L hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Phạm Thị T có mẹ đẻ được tặng Kỷ niệm chương thanh niên xung phong, Huy chương vì sự nghiệp giao thông vận tải, Huân chương kháng chiến hạng Ba tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nguyễn Ngọc A đã cung cấp thông tin giúp điều tra làm rõ vụ án Trộm cắp tài sản được Công an tỉnh Ninh Bình xác nhận, bố đẻ là bệnh binh, có hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính tại điểm t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Phạm Thị B khi thực hiện hành vi phạm tội là phụ nữ có thai tại điểm n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nguyễn Thị Lan H bị bệnh thoát vị đĩa đệm, sức khỏe yếu, bố đẻ được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, mẹ đẻ được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhì tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Thị Lan H đã tự nguyện nộp 3.000.000 đồng, Mai Duy T nộp 20.000.000 đồng, Nguyễn Anh T nộp 20.200.000 đồng, Phạm Thị B nộp 5.000.000 đồng, Phạm Thị T nộp 10.000.000 đồng, Ngô Cẩm B nộp 10.000.000 đồng, Nguyễn Thị L nộp 5.000.000 đồng tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Cấp sơ thẩm giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo là có căn cứ. Tuy nhiên, hành vi của các bị cáo Mai Duy T, Nguyễn Anh T, Ngô Cẩm B, Phạm Thị Y, Nguyễn Thị L, Nguyễn Ngọc A, Phạm Thị T phạm tội đánh bạc với số tiền sử dụng vào việc đánh bạc lớn, phạm tội từ hai lần trở lên; bị cáo Nguyễn Thị Lan H phạm tội từ hai lần trở lên; bị cáo Phạm Thị B hiện đang có tiền sự. Do vậy, Hội đồng xét xử đồng tình với nhận định của cấp sơ thẩm, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù và cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm cải tạo giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4]. Xét kháng cáo của các bị cáo:

[4.1]. Kháng cáo giảm nhẹ hình phạt: Ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho các bị cáo được hưởng nêu trên. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo giao nộp các chứng cứ đề nghị áp dụng để giảm nhẹ hình phạt, cụ thể: Mai Duy T cung cấp xác nhận ngày 16/8/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sìn Hồ về cung cấp thông tin bắt đối tượng phạm tội, đơn trình bày của bà Phạm Thị H (mẹ) và chị Phạm Thị Th (vợ) có hoàn cảnh khó khăn. Nguyễn Anh T ngày 31/8/2020 nộp số tiền 20.200.000đồng theo Biên lai thu tiền số 0002499 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình, cung cấp xác nhận ngày 01/8/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Nam Định về cung cấp thông tin bắt đối tượng phạm tội. Ngô Cẩm B ngày 12/10/2020 nộp số tiền 20.200.000đồng theo Biên lai thu tiền số 0002751 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình, xác nhận ngày 06/9/2020 của Công an phường Phú Lãm, quận Hà Đông về cung cấp thông tin bắt đối tượng phạm tội, Giấy ra viện ngày 27/10/2021 của Bệnh viện sản nhi tỉnh Ninh Bình sinh con lần 4, đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn. Phạm Thị Y cung cấp xác nhận ngày 25/12/2020 của Công an huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình về cung cấp thông tin bắt đối tượng phạm tội. Nguyễn Thị L ngày 13/8/2020 nộp 30.000.000đồng và ngày 26/4/2021 nộp 10.000.000đồng, theo Biên lai thu tiền số 0002493 và 0000052 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình, đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn được UBND phường S, thành phố Đ xác nhận có hộ khẩu thường trú, xác nhận ngày 08/10/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hòa Bình về cung cấp thông tin bắt đối tượng phạm tội. Nguyễn Ngọc A ngày 26/8/2020 nộp số tiền 20.200.000đồng theo Biên lai thu tiền số 0002497 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình, ủng hộ Quỹ phòng chống dịch Covid-19 số tiền 5.000.000đồng được Chủ tịch UBND phường T, thành phố Đ xác nhận ngày 12/11/2021; đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn được UBND phường B, thành phố Đ xác nhận. Phạm Thị B ngày 20/10/2020 nộp số tiền 43.551.900 đồng theo Biên lai thu tiền số 0002639 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình, đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn, mới sinh con. Phạm Thị T ngày 13/8/2020 đã nộp số tiền 58.200.000đồng theo Biên lai thu tiền số 0002492 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình, xác nhận ngày 13/12/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Mường Lát về cung cấp thông tin bắt đối tượng phạm tội. Nguyễn Thị Lan H ngày 13/8/2020 nộp 25.000.000đồng và ngày 25/8/2020 nộp 12.027.000đồng, theo Biên lai thu tiền số 0002494 và 0002496 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình, đơn trình bày hoàn cảnh khó khăn, hiện nuôi bố mẹ già yếu, đơn xác nhận hiện bị bệnh đau thần kinh tọa và u gan…Xét thấy, đối với xác nhận của cơ quan Công an mà các bị cáo cung cấp, tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đều không nhớ hoặc không trình bày được diễn biến sự việc đã cung cấp thông tin như thế nào, Hội đồng xét xử đánh giá sự tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm còn hạn chế, nên việc áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự là chưa phù hợp với quy định của pháp luật, vì vậy, cấp phúc thẩm áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo. Các bị cáo Tuấn, Bình, L, B, T, An, Hương đã tự nguyện nộp một phần số tiền truy thu, An ủng hộ Quỹ phòng chống dịch Covid-19 số tiền 5.000.000đồng, các bị cáo đều trình bày điều kiện hoàn cảnh gia đình khó khăn, mới sinh con, bố mẹ già yếu, là lao động chính...được áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặc dù, các bị cáo Mai Duy T, Ngô Cẩm B, Nguyễn Anh T, Phạm Thị Y, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Lan H được cấp phúc thẩm tiếp tục áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, tuy nhiên, căn cứ tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ, nhân thân, xét thấy, mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với các bị cáo là phù hợp, cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm. Đối với các bị cáo Phạm Thị T tự nguyện nộp số tiền 58.200.000 đồng tiền phạt và án phí sơ thẩm, Nguyễn Ngọc A nộp số tiền 20.200.000đồng và ủng hộ Quỹ phòng chống dịch Covid-19 số tiền 5.000.000đồng, Phạm Thị B tự nguyện nộp số tiền 43.551.900 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ chấp nhận kháng cáo, giảm một phần hình phạt cho 03(ba) bị cáo như quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là phù hợp, thể hiện sự nhân đạo của pháp luật nhưng vẫn đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm trong tình hình hiện nay.

[4.2]. Kháng cáo đề nghị giảm tiền tịch thu: Các bị cáo Mai Duy T, Ngô Cẩm B, Phạm Thị T, Nguyễn Ngọc A, Phạm Thị Y, Nguyễn Thị L kháng cáo đề nghị giảm số tiền truy thu. Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đều thừa nhận số tiền dùng vào việc đánh bạc như Tòa án cấp sơ thẩm xác định là đúng. Xét thấy, đây là số tiền mà các bị cáo đã sử dụng để đánh bạc và thu lời bất chính từ việc đánh bạc, Tòa án cấp sơ thẩm tịch thu và buộc các bị cáo nộp lại để nộp ngân sách Nhà nước là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Do vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo, cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm, như sau: Bị cáo Mai Duy T phải nộp số tiền 4.903.841.800 đồng, được trừ số tiền 20.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2013/0002491 ngày 03/8/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình, bị cáo còn phải nộp 4.883.841.800 đồng. Ngô Cẩm B phải nộp số tiền 700.872.700 đồng, được trừ vào số tiền số tiền 10.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2013/0002486 ngày 16/7/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình, bị cáo còn phải nộp 690.872.700 đồng. Phạm Thị T phải nộp số tiền 103.270.000 đồng, được trừ vào số tiền 10.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2013/0002487 ngày 16/7/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình, bị cáo còn phải nộp 93.270.000 đồng. Nguyễn Thị L phải nộp số tiền 501.007.000 đồng, được trừ vào số tiền 5.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2013/0002484 ngày 16/7/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình, bị cáo còn phải nộp 496.007.000 đồng. Phạm Thị Y phải nộp số tiền 486.862.200 đồng. Nguyễn Ngọc A phải nộp số tiền 387.177.000 đồng.

[4.3]. Về số tiền thu giữ của bị cáo Thắng: Luật sư và bị cáo Thắng đề nghị trả lại số tiền đã thu giữ trong quá trình khám xét 355.200.000đồng. Xét thấy, số tiền sử dụng để đánh bạc và thu lời bất chính từ việc đánh bạc bị cáo Thắng phải nộp 4.903.841.800 đồng để sung quỹ Nhà nước là rất lớn. Tòa cấp sơ thẩm tuyên trả lại cho bị cáo Thắng số tiền này, nhưng đã quyết định tiếp tục quản lý số tiền trên để đảm bảo thi hành án là phù hợp quy định của pháp luật, không có căn cứ chấp nhận quan điểm của Luật sư và bị cáo Thắng.

[5]. Quan điểm bào chữa của Luật sư: Đi với quan điểm của Luật sư đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Mai Duy T là không có căn cứ, không được chấp nhận.

[6]. Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Xét thấy, các căn cứ và lập luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có cơ sở và được chấp nhận.

[7]. Về án phí: Các bị cáo kháng cáo không chấp nhận, phải nộp án phí phúc thẩm theo quy định. Các bị cáo kháng cáo được chấp nhận, không phải nộp án phí phúc thẩm theo quy định.

[8]. Về quyết định khác: Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên, Căn cứ Điều 355, Điều 356, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án;

QUYẾT ĐỊNH

1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Mai Duy T, Ngô Cẩm B, Nguyễn Anh T, Phạm Thị Y, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Lan H. Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Phạm Thị T, Nguyễn Ngọc A, Phạm Thị B.

2. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 16/2020/HSST ngày 04 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Bình, về phần hình phạt tù đối với bị cáo Phạm Thị T, bị cáo Nguyễn Ngọc A, bị cáo Phạm Thị B, cụ thể như sau:

2.1. Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Mai Duy T: 54 (Năm mươi tư) tháng tù, về tội: “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16/12/2019. Phạt tiền bổ sung 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

2.2. Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Ngô Cẩm B: 48 (Bốn mươi tám) tháng tù, về tội: “Đánh bạc”.

Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 18/12/2019 đến ngày 25/12/2019. Phạt tiền bổ sung 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

2.3. Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị L: 48 (Bốn mươi tám) tháng tù, về tội: “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 17/12/2019 đến ngày 25/12/2019. Phạt tiền bổ sung 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

2.4. Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị Y: 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, về tội: “Đánh bạc”.

Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 17/12/2019 đến ngày 25/12/2019. Phạt tiền bổ sung 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

2.5. Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T: 30 (Ba mươi) tháng tù, về tội: “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ tạm giam 08/01/2020. Phạt tiền bổ sung 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

2.6. Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc A: 21 (Hai mươi mốt) tháng tù, về tội: “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Phạt tiền bổ sung 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

2.7. Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm n, s khoản 1 Điều 51;

Điều 17; Điều 38; Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị B: 21 (Hai mươi mốt) tháng tù, về tội: “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Phạt tiền bổ sung 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

(Ghi nhận bị cáo Phạm Thị B ngày 20/10/2020 nộp số tiền 43.551.900 đồng theo Biên lai thu tiền số 0002639 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình) 2.8. Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Phạm Thị T: 18 (Mười tám) tháng tù, về tội: “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Phạt tiền bổ sung 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

2.9. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Lan H: 09 (Chín) tháng tù, về tội: “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Phạt tiền bổ sung 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước.

(Ghi nhận bị cáo Nguyễn Thị Lan H ngày 13/8/2020 nộp 25.000.000đồng và ngày 25/8/2020 nộp 12.027.000đồng, theo Biên lai thu tiền số 0002494 và 0002496 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình).

3. Biện pháp tư pháp: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền sử dụng đánh bạc và do đánh bạc mà có (số tiền phạm tội), cụ thể:

3.1. Bị cáo Mai Duy T phải nộp số tiền 4.903.841.800 đồng, được trừ số tiền 20.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2013/0002491 ngày 03/8/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình, bị cáo còn phải nộp 4.883.841.800đ (Bốn tỷ tám trăm tám mươi ba triệu tám trăm bốn mươi mốt nghìn tám trăm đồng).

Trả lại cho bị cáo Mai Duy T số tiền 355.200.000đ (Ba trăm năm mươi lăm triệu hai trăm nghìn đồng) đã thu giữ trong quá trình khám xét, nhưng tiếp tục quản lý số tiền trên để đảm bảo thi hành án. (Số tiền 355.200.000đồng hiện đang gửi tại tài khoản tạm giữ Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình tại Kho bạc nhà nước tỉnh Ninh Bình theo Ủy nhiệm chi số 02 lập ngày 16/6/2020, đơn vị trả tiền Công an tỉnh Ninh Bình).

3.2. Bị cáo Ngô Cẩm B phải nộp số tiền 700.872.700 đồng, được trừ vào số tiền 10.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2013/0002486 ngày 16/7/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình, bị cáo còn phải nộp 690.872.700đ (Sáu trăm chín mươi triệu tám trăm bảy mươi hai nghìn bảy trăm đồng).

(Ghi nhận bị cáo Ngô Cẩm B đã nộp số tiền 20.200.000đồng theo Biên lai thu tiền số 0002751 ngày 12/10/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình).

3.3. Bị cáo Nguyễn Thị L phải nộp số tiền 501.007.000 đồng, được trừ vào số tiền 5.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2013/0002484 ngày 16/7/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình, bị cáo còn phải nộp 496.007.000đ (Bốn trăm chín mươi sáu triệu không trăm linh bảy nghìn đồng).

(Ghi nhận bị cáo Nguyễn Thị L đã nộp 30.000.000đồng và nộp 10.000.000đồng, theo Biên lai thu tiền số 0002493 ngày 13/8/2020 và 0000052 ngày 26/4/2021 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình).

3.4. Bị cáo Phạm Thị Y phải nộp số tiền 486.862.200đ (Bốn trăm tám mươi sáu triệu tám trăm sáu mươi hai nghìn hai trăm đồng).

3.5. Bị cáo Nguyễn Ngọc A phải nộp số tiền 387.177.000đ (Ba trăm tám mươi bảy triệu một trăm bảy mươi bảy nghìn đồng).

(Ghi nhận bị cáo Nguyễn Ngọc A nộp số tiền 20.200.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0002497 ngày 26/8/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình).

3.6. Bị cáo Phạm Thị T phải nộp số tiền 103.270.000 đồng, được trừ vào số tiền 10.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2013/0002487 ngày 16/7/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình, bị cáo còn phải nộp 93.270.000đ (Chín mươi ba triệu hai trăm bảy mươi nghìn đồng).

(Ghi nhận bị cáo Phạm Thị T đã nộp số tiền 58.200.000đồng theo Biên lai thu tiền số 0002492 ngày 13/8/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình).

4. Về án phí phúc thẩm: Các bị cáo Mai Duy T, Ngô Cẩm B, Nguyễn Anh T, Phạm Thị Y, Nguyễn Thị L, Nguyễn Thị Lan H mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ(hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm. Các bị cáo Phạm Thị T, Nguyễn Ngọc A, Phạm Thị B không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

211
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tội đánh bạc số 555/2021/HS-PT

Số hiệu:555/2021/HS-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân cấp cao
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 16/11/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;