Bản án về tội chứa mại dâm số 166/2022/HS-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 166/2022/HS-ST NGÀY 27/09/2022 VỀ TỘI CHỨA MẠI DÂM

Ngày 27 tháng 9 năm 2022, Tòa án nhân dân thành phố P mở phiên tòa xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 133/2022/TLST- HS ngày 09 tháng 9 năm 2022, tại 02 điểm cầu : Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án thành phố P, tỉnh B, điểm cầu thành phần đặt tại Cơ sở giam giữ, Cơ quan thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp - Công an thành phố P (Sau đây gọi tắt là Cơ sở giam giữ Công an thành phố P), theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 190/2022/QĐXXST- HS ngày 09/9/2022, đối với bị cáo:

HUỲNH LÝ N - Tên gọi khác: không; Sinh năm: 1979, tại tỉnh: Cần Thơ.

- Nơi đăng ký HKTT: Ấp 5, xã Hòa M, huyện Phụng H, tỉnh Hậu Giang;Chỗ ở: khu phố 2, phường Phú T, thành phố Phan T, tỉnh B;Quốc tịch: Việt Nam.Giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không Nghề nghiệp: không. Trình độ học vấn: không biết chữ . Con ông Huỳnh Văn D, sinh năm 1942 (đã chết) và bà Võ Thị S, sinh năm 1946, nghề nghiệp: không; Chồng: không rõ; Con: có 01 người con sinh năm 2005.Tiền án: Tại bản án số 30/2011/HSST ngày 21/3/2011, bị Tòa án nhân dân thành phố P xử phạt 18 tháng tù về tội “Chứa mại dâm”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 25/4/2012, chưa chấp hành xong phần án phí (chưa được xóa án tích);Tiền sự: Không. Nhân thân: Tại bản án số 147/2009/HSST ngày 21/9/2009, bị Tòa án nhân dân thành phố P xử phạt 12 tháng tù về tội “Chứa mại dâm”, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 01/4/2010 (đã được xóa án tích);Bị tạm giữ từ ngày 22/4/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố P.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa (điểm cầu thành phần).

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Thị Bé H , sinh năm: 1992- Địa chỉ: Ấp Nguyệt Lăng C, xã Bình P, huyện càn L, tỉnh Trà Vinh.Vắng mặt.

* Người tham gia tố tụng khác tại điểm cầu thành phần gổm :

1/Bà Nguyễn Thị Bích N - Thẩm phán Tòa án thành phố P.

2/ Ông Võ Thuận L - Cán bộ cơ sở giam giữ Công an thành phố P .

3/ Nguyễn Đình Minh Q - Cán bộ cơ sở giam giữ Công an thành phố P.

NỘI DUNG VỤ ÁN

 Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 18/4/2022, Huỳnh Lý N thuê căn nhà của anh Trần Thanh N (sinh năm: 1972, trú tại khu phố 2, phường Phú T) trong hẻm số 290 đường Hải Thượng Lãn Ô (thuộc khu phố 2, phường Phú T, thành phố Phan T) để ở và chứa mại dâm. Trong căn nhà có 07 phòng, N sử dụng 01 phòng để ở, các phòng còn lại N sử dụng chứa mại dâm. Khi có khách đến mua dâm, N liên hệ số điện thoại do các gái bán dâm cung cấp đến bán dâm cho khách tại nhà của N thuê, và thu 80.000 đồng tiền phòng/01 lượt khách mua dâm.

Vào khoảng 19 giờ 15 phút ngày 21/4/2022, có anh Nguyễn T (sinh năm: 1977;

trú tại thôn Phú T, xã Hàm Tr, huyện Hàm Thuận B, tỉnh B) đến nói với N “Điều cho 01 em”, N hiểu T muốn mua dâm nên đã dùng điện thoại di động của mình có số thuê bao 032943xxxx gọi đến số thuê bao 098344xxxx của Nguyễn Thị Bé H (sinh năm: 1992; trú tại thôn Xuân T, xã Phong N, thành phố Phan T) bảo H đến bán dâm cho khách, H đồng ý.

Khoảng 15 phút sau, có anh Lê L (sinh năm: 1989; trú tại thôn 1, xã Hàm L, huyện Hàm Thuận B, tỉnh B) đến gặp N và nói “Cho một em”, N dùng điện thoại của mình tiếp tục gọi đến số thuê bao 0985341706 của Đàm Thị Tuyết N (sinh năm: 1994; trú tại thôn Xuân T, xã Phong N, thành phố Phan T) đến bán dâm cho khách thì N cũng đồng ý.

Khi H và N đến nhà của N thuê, sau khi thỏa thuận xong giá cả với T và L, thì Hai dẫn T vào phòng số 03, N dẫn L vào phòng số 02, để thực hiện hành vi mua bán dâm.

Đến khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, Đội Chống tệ nạn xã hội và mua bán người - Công an tỉnh B phối hợp cùng Công an phường Phú Tài kiểm tra, bắt quả tang.

Tại bản cáo trạng số 133/CT- VKS-HS ngày 08 tháng 9 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh B đã truy tố bị cáo Huỳnh Lý N tội “Chứa mại dâm”, với các tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm nguy hiểm”, quy định tại các điểm c, h khoản 2 Điều 327 Bộ luật Hình sự.

Ý kiến của bị cáo tại phiên tòa: Bị cáo xác định nội dung cáo trạng truy tố không oan sai và khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố.

Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:

Về tội danh và hình phạt: Đại diện Viện kiểm sát đã giữ nguyên quan điểm truy tố tại cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm c, h khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 01, điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Lý N mức án từ 06 năm đến 07 năm tù;

Về biện pháp tư pháp: đề nghị áp dụng quy định tại điểm a khoản 01 điều 46, điểm c khoản 01 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 02, điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự , đề nghị:

-Tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Masstel, bên trong có chứa sim số 032943xxxx (thu giữ của Huỳnh Lý N).

-Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Masstel, bên trong có chứa sim số 098344xxxx (thu giữ của Nguyễn Thị Bé H);

- Tịch thu tiêu hủy : 02 ruột bao cao su đã qua sử dụng, 02 vỏ bao cao su hiệu VPT đã bị xé rách; 22 bao cao su hiệu VPT chưa sử dụng, 01 tuýp gel bôi trơn hiệu KY.

-Tiếp tục tạm giữ số tiền 170.000 đồng thu giữ từ Huỳnh Lý N, để đảm bảo thi hành án khoản tiền án phí của bị cáo tại bản án.

Lời nói sau cùng bị cáo không trình bày.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

[2]Về đánh giá chứng cứ, xác định tội danh của bị cáo:

Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người làm chứng, phù hợp với vật chứng thu giữ, và các tài liệu chứng cứ khác do cơ quan điều tra thu thập có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng 19 giờ 15 phút ngày 21/4/2022 Huỳnh Lý N đã sử dụng căn nhà do N thuê tại Hẻm 209, đường Nguyễn H, thuộc khu phố 2, phường Phú T, thành phố Phan T để chứa lần lượt 02 đôi mua bán dâm là : Nguyễn T (sinh năm: 1977; trú tại thôn Phú T, xã Hàm T, huyện Hàm Thuận B, tỉnh B) và Nguyễn Thị Bé H (sinh năm: 1992; trú tại thôn Xuân T, xã Phong N, thành phố Phan T) ; Lê L (sinh năm: 1989; trú tại thôn 1, xã Hàm L, huyện Hàm Thuận B, tỉnh B) và Đàm Thị Tuyết N (sinh năm: 1994; trú tại thôn Xuân T, xã Phong N, thành phố P) nhằm thu lợi 80.000 đồng/lượt bán dâm.

Hành vi chứa chấp hai đôi mua bán dâm độc lập với nhau trong cùng một thời điểm, do Huỳnh Lý N thực hiện trong vụ án, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chứa mại dâm” với tình tiết định khung hình phạt “Phạm tội từ 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm c khoản 02 điều 327 Bộ luật Hình sự.

Đồng thời khi thực hiện hành vi phạm tội Huỳnh Lý N đã có tiền án tái phạm về tội “Chứa mại dâm”. theo bản án số 30/2011/HSST ngày 21/3/2011, của Tòa án nhân dân thành phố P , bản án này chưa đủ điều kiện để tính xóa án tích (do chưa chấp hành xong phần án phí) nên lần phạm tội này của bị cáo N thuộc trường hợp “ tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm b khoản 01 điều 53 Bộ luật Hình sự , và thuộc trường hợp quy định là tình tiết định khung hình phạt tại điểm h khoản 02 điều 327 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P truy tố đối với bị cáo với tội danh và khung hình phạt như đã nêu trên là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Đối với ông Trần Thanh N là người cho bị cáo N thuê nhà, quá trình điều tra xác định ông N không biết được việc N thuê nhà ông để hoạt động chứa mại dâm, nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Lê L, Nguyễn T, Đàm Thị Tuyết N, Nguyễn Thị Bé H đã có hành vi mua bán dâm, vi phạm khoản 1 Điều 24, khoản 1 Điều 25 của Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P đã xử phạt hành chính là đúng quy định pháp luật.

[3] Đánh giá nhân thân, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:

Xét bị cáo huỳnh Lý N có nhân thân xấu đã nhiều lần bị xử phạt tù có thời hạn về hành vi chứa mại dâm, nhưng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi chứa mại dâm, kinh doanh thân xác phụ nữ để thu lợi nhuận, bất chấp việc xử lý của pháp luật;

Hành vi do bị cáo thực hiện trong vụ án không những đã trực tiếp xâm hại đến trật tự công cộng, xâm phạm thuần phong mỹ tục đạo đức xã hội, mà còn là một trong những nguy cơ làm lây lan các căn bệnh qua đường tình dục, gây tổn hại đến sức khỏe của con người trong cộng đồng xã hội;

Vối lỗi cố ý trực tiếp , đồng thời phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe giáo dục riêng và phòng chống tội phạm chung .

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo phạm tội nhưng không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự quy định tại điểm s, khoản 01, Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5]Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Masstel, bên trong có chứa sim số 032943xxxx (thu giữ của Huỳnh Lý N); là công cụ bị cáo dùng để liên lạc thực hiện hành vi phạm tội, do vậy sẽ tịch thu sung công quỹ nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 01 điều 47, Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 02, điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Đối với các vật chứng thu giữ từ việc mua bán dâm gồm: 02 ruột bao cao su đã qua sử dụng, 02 vỏ bao cao su hiệu VPT đã bị xé rách; 22 bao cao su hiệu VPT chưa sử dụng, 01 tuýp gel bôi trơn hiệu KY, hiện các vật chứng này không có giá trị sử dụng, do vậy sẽ tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 01 điều 46, Bộ luật Hình sự và điểm c khoản 02, điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

Đối với số tiền số tiền 170.000 đồng thu giữ từ Huỳnh Lý N, căn cứ vào lời khai của người mua dâm và bán dâm cho biết bị phát hiện khi chưa trả tiền chứa m ại dâm cho N, do vậy không có căn cứ xác định số tiền này là tiền thu từ việc thực hiện tội phạm trong vụ án, do vậy sẽ tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án khoản tiền án phí của bị cáo tại bản án.

Đối với điện thoại di động hiệu Masstel, bên trong có chứa sim số 098344xxxx thu giữ của Nguyễn Thị Bé H không phải là công cụ phương tiện phạm tội trong vụ án , do vậy sẽ giao trả lại cho chủ sở hữu.

[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ vào quy định tại điểm c, điểm h khoản 02 điều 327, điểm s khoản 01 điều 51 Bộ luật hình sự.

[2] Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Lý N phạm tội “Chứa mại dâm”;

[3] Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Lý N 06 (sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 21/4/2022.

[4] Xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 01 điều 46, điểm a khoản 01 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 02 điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.

- Tuyên tịch thu tiêu hủy các vật chứng hiện không có giá trị sử dụng gồm: 02 ruột bao cao su đã qua sử dụng, 02 vỏ bao cao su hiệu VPT đã bị xé rách; 22 bao cao su hiệu VPT chưa sử dụng, 01 tuýp gel bôi trơn hiệu KY.

- Tuyên tịch thu sung công quỹ nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Masstel, bên trong có chứa sim số 032943xxxx (thu giữ của Huỳnh Lý N).

- Tuyên tiếp tục tạm giữ 170.000đ thu giữ của bị cáo Huỳnh Lý N để đảm bảo thi hành khoản tiền án phí của bị cáo tại bản án.

- Tuyên trả lại cho Nguyễn Thị Bé H 01 điện thoại di động hiệu Masstel, bên trong có chứa sim số 098344xxxx, do không phải là công cụ phương tiện phạm tội trong vụ án.

(Vật chứng được bàn giao theo biên bản số 132 ngày 13/9/2022và Giấy nộp tiền ngày 13/9/2022 vào tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thành phố P tại Kho bạc nhà nước tỉnh B)

* Về án phí: Tuyên buộc bị cáo Huỳnh Lý N phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/9/2022).

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

96
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về tội chứa mại dâm số 166/2022/HS-ST

Số hiệu:166/2022/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết - Bình Thuận
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 27/09/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: [email protected]
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;