Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 81/2021/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ

BẢN ÁN 81/2021/HNGĐ-ST NGÀY 15/12/2021 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 15 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 190/2021/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 11 năm 2021 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2021, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: ChịNgô Thị P Địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hoá.

Bị đơn: Anh Bùi Văn T Địa chỉ: Thôn C, xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hoá.

Tại phiên toà vắng mặt chị P và anh T. Chị P và anh T đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 29/10/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Ngô Thị P trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Bùi Văn T kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 07/02/2018 tại Uỷ ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hoá. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hoà thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ, chồng không hợp, bất đồng nhiều quan điểm sống dẫn đến việc vợ, chồng thường xuyên cãi nhau. Chị và anh T đã sống ly thân từ tháng 07/2020 đến nay, không ai quan tâm đến ai nữa. Đến nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Bùi Văn T.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Bùi Tuệ N, sinh ngày 14/6/2018. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu N và yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị mỗi tháng 2.000.000 đ (Hai triệu đồng) cho tới khi cháu N đủ 18 tuổi.

Về tài sản: Chị P không yêu cầu Toà án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn là anh Bùi Văn T trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chịNgô Thị P kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 07/02/2018 tại Uỷ ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hoá. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng hoà thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ, chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng anh hiện tại đang sống ly thân. Tuy nhiên anh xác định mâu thuẫn chưa đến mức trầm trọng nên anh không đồng ý ly hôn với chị Ngô Thị P.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Bùi Tuệ N, sinh ngày 14/6/2018. Nếu vợ, chồng phải ly hôn anh có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Tuệ N và không yêu cầu chị P cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh.

Về tài sản: Anh T không yêu cầu Toà án giải quyết. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX), Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS); người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 56; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

- Về hôn nhân: Xử cho chịNgô Thị P được ly hôn anh Bùi Văn T.

- Về con chung: Giao cháu Bùi Tuệ N, sinh ngày 14/6/2018 cho chị Ngô Thị P trực tiếp nuôi dưỡng. Anh T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị P mỗi tháng 1.000.000 đ (Một triệu đồng), thời gian cấp dưỡng nuôi con chung tính từ tháng 12/2021 cho tới khi cháu Tuệ N đủ 18 tuổi.

- Về án phí: Chị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn, anh T phải chịu án phí sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Đây là vụ án Hôn nhân gia đình có con chưa thành niên và trong quá trình giải quyết vụ án, do các bên đương sự chưa thống nhất được các vấn đề tranh chấp trong vụ án, nên Tòa án đã tiến hành xác minh để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp theo khoản 3 Điều 208 BLTTDS và đã thông báo kết quả thu thập tài liệu chứng cứ cho các bên đương sự cũng như Viện kiểm sát được biết.

[2] Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chịNgô Thị P có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Đây là trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 BLTTDS.

[3] Về tố tụng: Chị P và anh T đều có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt, căn cứ quy định tại khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228 BLTTDS, Toà án xét xử vắng mặt chị P và anh T.

[4] Về hôn nhân: ChịNgô Thị P và anh Bùi Văn T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 07/02/2018 tại UBND xã Q, huyện T, tỉnh Thanh Hoá và không vi phạm các điều cấm của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống. Chị P và anh T đã sống ly thân từ tháng 7/2020 đến nay. Điều đó chứng tỏ chị P và anh T đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 xử cho chị Ngô Thị P được ly hôn anh Bùi Văn T.

[5] Về con chung: Chị P và anh T có 01 con chung là cháu Bùi Tuệ N, sinh ngày 14/6/2018. Chị P và anh T đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con. Xét nguyện vọng của hai bên là chính đáng. Tuy nhiên cháu Tuệ Nhi đang còn nhỏ và lại là con gái, hiện nay chị P đang làm công nhân có thu nhập ổn định, nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định về mọi mặt cho con. Do đó chấp nhận yêu cầu của chị P, sau khi ly hôn giao cháu Tuệ N cho chị P trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

[6] Xét về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung: Chị P yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị mỗi tháng 2.000.000 đồng cho tới khi cháu Tuệ N đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay anh T có nghề nghiệp là lao động tự do, thu nhập không cao và không ổn định, nên mức cấp dưỡng chị P yêu cầu là chưa phù hợp. Do đó Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu về cấp dưỡng của chị P, buộc anh T phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị P mỗi tháng 1.000.000 đồng là phù hợp. Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ tháng 12/2021 cho tới khi cháu Tuệ N đủ 18 tuổi.

[7] Về tài sản: Chị P và anh T không yêu cầu nên HĐXX không xem xét.

[8] Về án phí: Chị P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, anh T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 56; 58; 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:

1. Về hôn nhân: Xử cho chịNgô Thị P được ly hôn anh Bùi Văn T.

2. Về con chung: Giao cháu Bùi Tuệ N, sinh ngày 14/6/2018 cho chị Ngô Thị P trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Bùi Văn T có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị Ngô Thị P mỗi tháng 1.000.000 đ (Một triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ tháng 12/2021 cho tới khi cháu N đủ 18 tuổi.

Anh Bùi Văn T có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

Kể từ khi chịNgô Thị P đơn yêu cầu thi hành án, nếu chưa thi hành án anh Bùi Văn T còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự trên số tiền phải thi hành án, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

3. Về án phí: ChịNgô Thị P phải chịu 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng chị đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạch Thành, theo biên lai số AA/2021/0007422 ngày 01/11/2021. Chị P đã nộp đủ số tiền án phí dân sự sơ thẩm. Anh Bùi Văn T phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt chịNgô Thị P và anh Bùi Văn T. Chị P và anh T có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

16
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 81/2021/HNGĐ-ST

Số hiệu:81/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thạch Thành - Thanh Hoá
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 15/12/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;