Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 29/2022/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

BẢN ÁN 29/2022/HNGĐ-ST NGÀY 24/02/2022 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 24 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 335/2021/TLST-HNGĐ ngày 29/11/2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2022/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 02 năm 2022 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm: 1974; Nơi cư trú: ấp B, xã B1, huyện G, tỉnh Bến Tre.

* Bị đơn: Ông Nguyễn Văn M, sinh năm: 1969; Nơi cư trú: ấp B, xã B1, huyện G, tỉnh Bến Tre.

(Bà T có mặt, ông M vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh T trình bày:

- Về hôn nhân: Sau khi tìm hiểu khoảng 02 năm, xác định có tình cảm nên bà T và ông M tự nguyện tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào ngày 23/12/1996 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre. Thời gian đầu, vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông M không lo làm ăn, không chăm lo cho vợ con. Ông bà thường xuyên tranh cãi dẫn đến mâu thuẫn ngày càng gay gắt. Do cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông M.

- Về con chung: Quá trình chung sống ông bà có hai con chung tên Nguyễn Văn M1, sinh ngày 22/12/1991 và Nguyễn Thị Thanh N, sinh ngày 18/12/2004. Con hiện đang sống chung với bà T. Sau khi ly hôn bà T yêu cầu được nuôi con chung tên Nguyễn Thị Thanh N, bà không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con. Riêng con chung Nguyễn Văn M1 đã thành niên nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: Ông bà có tài sản chung nhưng đã tự thỏa thuận phân chia, không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: không có.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã mời bà T và ông M đến tham dự phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông M vắng mặt nên không thể hòa giải được. Ông M có văn bản trình bày ý kiến, đơn xin giải quyết vắng mặt đề ngày 10/12/2021 với nội dung:

- Về hôn nhân: Ông và bà T kết hôn vào năm 1996, có đăng ký kết hôn vào ngày 23/12/1994 tại Ủy ban nhân dân xã Bình Thành, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Sau khi kết hôn ông bà chung sống tại xã Bình Thành, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Thời gian đầu, vợ chồng sống hạnh phúc nhưng đến năm 2020 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên tranh cãi dẫn đến mâu thuẫn ngày càng gay gắt. Ông đồng ý ly hôn với bà T.

- Về con chung: Quá trình chung sống ông bà có hai con chung tên Nguyễn Văn M1, sinh ngày 22/12/1991 và Nguyễn Thị Thanh N, sinh ngày 18/12/2004. Con hiện đang sống chung với bà T. Sau khi ly hôn ông đồng ý giao con chung tên Nguyễn Thị Thanh N cho bà T nuôi, ông không cấp dưỡng nuôi con. Riêng con chung Nguyễn Văn M1 đã thành niên nên ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: không có không yêu cầu giải quyết.

- Về nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.

Do bận đi làm xa và dịch bệnh nên ông xin Tòa giải quyết vắng mặt ông.

Tại phiên tòa, đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm phát biểu:

-Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng quy định; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Bà T, ông M thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T. Về con chung: Đề nghị giao con chung tên Nguyễn Thị Thanh N cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng. Ghi nhận bà T không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con. Riêng con chung tên Nguyễn Văn M1 đã thành niên, tự nuôi sống bản thân nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung tự thỏa thuận, nợ chung không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bà T khởi kiện yêu cầu xin ly hôn, tranh chấp nuôi con với ông M. Theo xác nhận của công an xã B vào ngày 24/11/2021 thì ông M hiện đang sinh sống tại xã B, huyện G, tỉnh Bến Tre. Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm theo quy định tại các Điều 28, 35 và 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông M có đơn đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông M.

[2] Về hôn nhân: Bà T và ông M thống nhất ông bà kết hôn vào năm 1996, hôn nhân do tự nguyện. Theo bản sao chứng nhận kết hôn do bà T cung cấp thể hiện Ủy ban nhân dân xã Bình Thành, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre chứng nhận kết hôn cho bà T và ông M vào 23/12/1996. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Sau khi cưới nhau, thời gian đầu ông bà sống hạnh phúc, đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Bà T và ông M cho rằng nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành mở phiên hòa giải để tạo điều kiện hàn gắn cho ông bà. Tuy nhiên, ông M không đến tham dự phiên hòa giải và có văn bản xin giải quyết xét xử vắng mặt, và đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà T nên Tòa án không thể hòa giải được, phải đưa vụ án ra xét xử. Theo biên bản xác M1 ngày 25/01/2022, đại diện Ủy ban nhân dân xã Bình Thành, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre cung cấp: theo địa phương được biết thì bà T và ông M đã ly thân với nhau từ lâu, ông M đi làm xa ít khi về nhà, còn mẫu thuẫn cụ thể thì địa phương không rõ.

Hội đồng xét xử xét thấy, hôn nhân được tạo lập và duy trì dựa trên tình cảm và sự tự nguyện của hai bên vợ chồng. Tại phiên tòa, sau khi Hội đồng xét xử đã động viên nhưng bà T vẫn giữ quan điểm xin ly hôn với ông M vì cho rằng vợ chồng không còn tình cảm nên không thể tiếp tục chung sống. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định hôn nhân của bà T và ông M đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T, giải quyết cho bà T ly hôn với ông M là phù hợp.

[3] Về con chung: Xét yêu cầu của bà T được nuôi con chung tên Nguyễn Thị Thanh N, sinh ngày 18/12/2004, Hội đồng xét xử nhận thấy hiện con chung do bà T nuôi dưỡng, con vẫn được chăm sóc và phát triển bình thường. Tại bi ên bản ghi ý kiến của cháu Nguyễn Thị Thanh N vào ngày 13/12/2021, cháu N cũng mong muốn được tiếp tục sống với bà T. Ông M cũng đồng ý giao cháu N cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng. Do đó cần tiếp tục giao cháu N cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận bà T không yêu cầu ông M cấp dưỡng nuôi con. Riêng con chung Nguyễn Văn M1 đã thành niên nên, tự nuôi sống bản thân nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Ông M cho rằng tài sản chung không có, bà T cho rằng về tài sản chung ông bà tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết, nợ chung không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí: Bà T có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[6] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm là phù hợp nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 58, 59, 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Thanh T.

[1] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh T được ly hôn với ông Nguyễn Văn M.

[2] Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Thanh N, sinh ngày 18/12/2004 cho bà Nguyễn Thị Thanh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Ghi nhận bà Nguyễn Thị Thanh T không yêu cầu ông Nguyễn Văn M cấp dưỡng nuôi con.

Ông Nguyễn Văn M có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án quyết định việc cấp dưỡng nuôi con.

Trong trường hợp có yêu cầu của một, cả hai bên hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

[3] Về tài sản chung: không tranh chấp; nợ chung: không có.

[4] Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị Thanh T phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0002168 ngày 29 tháng 11 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Ghi nhận bà Nguyễn Thị Thanh T đã nộp đủ án phí.

[5] Về quyền kháng cáo bản án: Bà Nguyễn Thị Thanh T được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày tuyên án là ngày 24/02/2022), ông Nguyễn Văn M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

132
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 29/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:29/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Giồng Trôm - Bến Tre
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 24/02/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;