Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 12/2022/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK

BẢN ÁN 12/2022/HNGĐ-ST NGÀY 16/05/2022 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON

Ngày 16/5/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2022/TLST–HNGĐ ngày 04/01/2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2022/QĐXX- HNGĐ ngày 04/01/2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đào Thị S; Địa chỉ: Số M, phường A, thị xã B, Đắk Lắk, có mặt.

- Bị đơn: Anh Đỗ Hồng N; Địa chỉ: Số M, phường A, thị xã B, Đắk Lắk, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 26/11/2021 và trong quá trình hoà giải và tại phiên toà nguyên đơn chị Đào Thị S trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh N tự nguyện đăng ký kết hôn từ ngày 19/10/2001, tại UBND thị trấn Buôn Hồ, huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk, trong quá trình chung sống vợ chồng tôi sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cãi nhau và vợ chồng tôi đã sống ly thân nhau từ năm 2015 cho đến nay, Nay tôi đề nghị Toà án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh N.

Về con chung: Quá trình chung sống chúng tôi có 02 con chung là Đỗ Minh T, sinh ngày 22/4/2002 và Đỗ Minh Anh Đ, sinh ngày 05/02/2005. Tôi có nguyện vọng được nuôi dưỡng và chăm sóc con chung Đỗ Minh Anh Đ, sinh ngày 05/02/2005 và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung. Đối với con chung Đỗ Minh T, ngày 22/4/2002 đã trưởng thành nên chị S không yêu cầu Toà án giải quyết.

-Về tài sản chung: Chị S không yêu cầu toà án giải quyết.

-Tại bản tự khai bị đơn anh Đỗ Hồng N trình bày: Tôi và cô S tự nguyện đăng ký kết hôn từ ngày 19/10/2001, tại UBND thị trấn Buôn Hồ, huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk, trong quá trình chung sống vợ chồng tôi sống hạnh phúc được thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hoà thuận, chưa quan tâm đến nhau và vợ chồng tôi đã sống ly thân nhau từ tháng 01/2022 cho đến nay. Nay cô S xin ly hôn thì tôi không đồng ý và xin đoàn tụ gia đình. Trường hợp Toà án cho ly hôn thì đối với con chung Đỗ Minh Anh Đ, sinh ngày 05/02/2005 muốn ở cùng ai cũng được, còn đối với con chung Đỗ Minh T, ngày 22/4/2002 đã trưởng thành nên anh N không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại biên bản xác minh ngày 07/4/2022 của Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ về tình trạng hôn nhân của chị S và anh N như sau: Trong quá trình chung sống anh chị có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân cụ thể chính quyền địa phương không nắm rõ, tuy nhiên vợ chồng đã sống ly thân từ lâu.

Đại diện VKSND thị xã Buôn Hồ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục và các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nguyên đơn chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ theo các Điều 70, 71 BLTTDS, bị đơn không chấp hành theo giấy triệu tập của Toà án, vi phạm các Điều 70, 72 BLTTDS. Về nội dung đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn: Cho chị Đào Thị S được ly hôn với anh Đỗ Hồng N.

Về con chung: Giao con chung Đỗ Minh Anh Đ, sinh ngày 05/02/2005 cho chị S được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Tròn 18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung chị S không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Đối với con chung Đỗ Minh T, 22/4/2002 đã trưởng thành nên chị S không yêu cầu Toà án giải quyết.Về tài sản và công nợ: Chị S không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Tại phiên toà nguyên đơn chị Đào Thị S vẫn giữ nguyên yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu, xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Đỗ Hồng N đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ pháp luật: Chị Đào Thị S và anh Đỗ Hồng N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 19/10/2001 tại UBND thị trấn Buôn Hồ, huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk, đây là hôn nhân hợp pháp khi có tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 BLTTDS.

[3] Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu của nguyên đơn HĐXX thấy: Chị S, anh N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 19/10/2001 tại UBND thị trấn Buôn Hồ, huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk, sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, vợ chồng cãi vã lẫn nhau và vợ chồng anh N, chị S đã ly thân nhau từ năm 2015 cho đến nay. Xét thấy, tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Đào Thị S yêu cầu được ly hôn anh Đỗ Hồng N cơ bản phù hợp với biên bản xác minh tình trạng hôn nhân và phù hợp với khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên cần chấp nhận.

[4] Về con chung: Xét nguyện vọng của chị Đào Thị S được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung Đỗ Minh Anh Đ, sinh ngày 05/02/2005 và không yêu cầu anh N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, là phù hợp nên cần chấp nhận. Đối với con chung Đỗ Minh T, sinh năm 2002 đã trưởng thành nên chị S không yêu cầu Toà án giải quyết.

[5] Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Chị Đào Thị S chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Đào Thị S:

-Về hôn nhân: Cho chị Đào Thị S được ly hôn với anh Đỗ Hồng N.

-Về con chung: Giao con chung Đỗ Minh Anh Đ, sinh ngày 05/02/2005 cho chị S được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (Tròn 18 tuổi). Về cấp dưỡng nuôi con chung chị S không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Đối với con chung Đỗ Minh T, sinh năm 2002 đã trưởng thành nên chị S không yêu cầu Toà án giải quyết.

Anh N được quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở, vì lợi ích của con theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng con chung.

-Về tài sản và công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

-Về án phí: Chị Đào Thị S chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 60AA/2021/0008435, ngày 30/12/2021, tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn có quyền kháng cáo án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

129
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con số 12/2022/HNGĐ-ST

Số hiệu:12/2022/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Buôn Hồ - Đăk Lăk
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 16/05/2022
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;