Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn số 45/2024/HNGĐ-ST

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN, TỈNH NINH BÌNH

BẢN ÁN 45/2024/HNGĐ-ST NGÀY 20/08/2024 VỀ LY HÔN, TRANH CHẤP NUÔI CON CHUNG KHI LY HÔN

Ngày 20 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 116/2024/TLST- HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2024về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2024/QĐST-DS ngày 08 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H sinh năm 1995; Địa chỉ: Xóm T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (Vắng mặt có lý do)

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn P sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn M, xã G, huyện N, tỉnh Ninh Bình. (Vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện,bản tự khai, nguyên đơn chị Bùi Thị H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh P được tự do tìm hiểu và tự nguyện đi đăng ký kết hôn ngày 23/02/2014 tại UBND xã G, huyện N, tỉnh Ninh Bình Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hòa thuận hạnh phúc được khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, dẫn đến vợ chồng thường xuyên đánh chửi nhau. Trong thời gian sinh sống hai vợ chồng chị mâu thuẫn càng trầm trọng khiến không khí gia đình căng thẳng. Kể từ năm 2019, chị H đã bỏ về quê mẹ ở xóm T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình để ở cho đến nay. Chị H thấy cho đến nay mâu thuẫn đã căng thẳng, trầm trọng không còn ai quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa. Nên chị làm đơn đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn P.

Về con chung: Chị H và anh P có 02 con chung là cháu Nguyễn Thiên P1 sinh ngày 30/01/2014 và cháu Nguyễn Ngọc L sinh ngày 17/8/2016 hiện đang ở với chị H. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi cả hai cháu đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Tôi không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con Về tài sản chung và công nợ chung không có nên chị không đề nghị Tòa án giải quyết.

Tại đơn xin xử vắng mặt chị Bùi Thị H vẫn đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn P vì tình cảm anh chị không còn. Về con chung chị H có nguyện vọng được nuôi hai cháu P1 và cháu L đến khi hai cháu đủ 18 tuổi và cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu. Về tài sản chung và công nợ chung chị H không đề nghị tòa án giải quyết.

Tại biên bản lấy lời khai, các tài liệu,chứng cứ có tại hồ sơ thể hiện như sau:

- Bị đơn anh P đã được Tòa án thông báo hợp lệ nhưng vẫn không có mặt.

Quá trình giải quyết Tòa án đã về làm việc tại gia đình anh P thì bố đẻ anh P đã có ý kiến trao đổi lại với Tòa án. Anh P đã chuyển về nhà ông bà để ở tuy nhiên lúc ở nhà lúc không ở nhà. Về quan hệ hôn nhân gia đình ông cũng nắm được vợ chồng anh P và chị H có mâu thuẫn nhưng gia đình không biết nguyên nhân tại sao. Đối với yêu cầu ly hôn của chị H gia đình không có ý kiến đó là quyền của các cháu. Về con chung anh P và chị H có hai con chung là cháu P1 và cháu L hiện nay đang ở với mẹ cháu. Chị H nếu nguyện vọng muốn nuôi hai cháu thì gia đình cũng đồng ý nếu chị H không nuôi được thì gia đình sẽ đón về nuôi. Bố đẻ anh P sẽ nhận thay toàn bộ văn bản tố tụng của Tòa án cho anh P và cam kết sẽ giao tận tay anh P.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Nho Quan tham gia tố tụng tại phiên tòa giải quyết vụ án sơ thẩm phát biểu ý kiến:

Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng các Điều 5, Điều 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị H. Xử ly hôn giữa chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Văn P.

2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Thiên P1 sinh ngày 30/01/2014 và cháu Nguyễn Ngọc L sinh ngày 17/8/2016 cho chị Bùi Thị H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi hai cháu đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh P không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H.

3. Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định các vấn đề phải giải quyết trong vụ án như sau:

[1].Về áp dụng pháp luật tố tụng: Quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là quan hệ ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn; Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theokhoản 1 Điều 28, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Bùi Thị H có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Theo khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án không tiến hành hòa giải là có căn cứ.

- Ngày 16/7/2024 là nguyên đơn chị Bùi Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Theo quy định Điều 227; khoản 1, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anhPhong.

- Anh Nguyễn Văn P là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Vì vậy tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh P theo quy định tại điểm b, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự [2].Về áp dụng pháp luật nội dung:

[2.1].Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Văn P được tự do tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 23/02/2014 tại UBND xã G, huyện N, tỉnh Ninh Bình trên cơ sở tự nguyện đây là cuộc hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Theo Giấy chứng nhận kết hôn số12 đây là hôn nhân hợp pháp theo Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.

Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống hòa thuận hạnh phúc được khoảng 05 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, dẫn đến vợ chồng thường xuyên đánh chửi nhau. Trong thời gian sinh sống hai vợ chồng chị mâu thuẫn càng trầm trọng khiến không khí gia đình căng thẳng. Kể từ năm 2019, chị H đã bỏ về quê mẹ ở xóm T, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình để ở cho đến nay. Chị H thấy cho đến nay mâu thuẫn đã căng thẳng, trầm trọng không còn ai quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa nên chị H làm đơn đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn P. Quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Nguyễn Văn P đã được Tòa án thông báo hợp lệ nhưng vẫn không có mặt. Tòa án đã tiến hành làm việc tại gia đình anh P thì bố đẻ anh P đã có ý kiến trao đổi lại với Tòa án như sau: Anh P đã chuyển về nhà ông bà để ở tuy nhiên lúc ở nhà lúc không ở nhà. Về quan hệ hôn nhân gia đình ông cũng nắm được vợ chồng anh P và chị H có mâu thuẫn nhưng gia đình không biết nguyên nhân tại sao. Đối với yêu cầu ly hôn của chị H gia đình không có ý kiến đó là quyền của anh P và chị H. Về con chung anh P và chị H có hai con chung là cháu P1 và cháu L hiện nay đang ở với mẹ là chị H. Nếu nguyện vọng của chị H muốn nuôi hai cháu thì gia đình cũng đồng ý. Chị H không nuôi được thì gia đình sẽ đón về nuôi. Chính quyền địa phương nơi chị H và anh P đăng ký kết hôn và cư trú cũng xác nhận. Chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Văn P đăng ký kết hôn tại xã G, huyện N, tỉnh Ninh Bình và sau khi kết hôn chị H và anh P sinh sống tại thôn M, xã G, huyện N. Đến năm 2019 chị H anh P và các con đã chuyển về xã K, huyện Y sinh sống quê của chị H để ở. Khi chị H và anh P sinh sống tại thôn M, xã G, huyện N có xảy ra mâu thuẫn cải chửi nhau tuy nhiên nguyên nhân vợ chồng cãi chửi nhau về việc gì thì chính quyền địa phương không nắm rõ, không biết và anh P, chị H không có báo cáo với chính quyền địa phương. Tuy nhiên đến nay anh P đã về nhà bố mẹ đẻ anh P thôn M, xã G, huyện N để ở mà không thấy chị H và các con về đây để ở. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ chấp nhận đơn khởi kiện của chị H, xử cho chị Bùi Thị H được ly hôn với anh Nguyễn Văn P là phù hợp Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2].Về con chung: Chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Văn P có 02 con chung là cháu Nguyễn Thiên P1 sinh ngày 30/01/2014 và cháu Nguyễn Ngọc L sinh ngày 17/8/2016 các cháu ở với chị H kể từ khi chị H và anh P sống ly thân cho đến nay. Khi ly hôn chị H có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu P1 và cháu L đến khi các cháu đủ 18 tuổi. Tại đơn đề nghị của các cháu, các cháu có trình bày nguyện vọng muốn được ở với mẹ là chị H. Vì vậy, căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình và nguyện vọng được nuôi con của chị H1 chính đáng và ý kiến của các cháu đều muốn ở với mẹ và từ năm 2019 đến nay đều là do mẹ chăm sóc nên Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao cho chị H2 tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các cháu Nguyễn Thiên P1 và cháu Nguyễn Ngọc L đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét.

[2.3].Về tài sản chung, công nợ chung:Chị H không yêu cầu do vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[3].Về án phí hôn nhân và gia đình: chị Bùi Thị H chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[4] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử:

1. Xử cho chị Bùi Thị H3 ly hôn đối với anh Nguyễn Văn P. Quan hệ hôn nhân của chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Văn P chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Thiên P1 sinh ngày 30/01/2014 và cháu Nguyễn Ngọc L sinh ngày 17/8/2016 cho chị Bùi Thị H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

“Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở giáo dục con; Cha mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con” Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Bùi Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được trừ vào số tiền tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số BLTU/23/0001256 ngày 16 tháng 5 năm 2024.

4. Án xử côngkhai sơ thẩm chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Văn P vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

82
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn số 45/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:45/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Nho Quan - Ninh Bình
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 20/08/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: [email protected]
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;