TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HOÁ
BẢN ÁN 76/2024/HNGĐ-ST NGÀY 10/09/2024 VỀ LY HÔN
Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N, tỉnh T xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 104/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024 về Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 67/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hà Thị T huyện L, tỉnh Thanh Hóa Sinh năm: 1982; nơi cư trú: Thôn N, xã Đ,
- Bị đơn: Anh Bùi Văn P ; sinh năm: 1983; nơi cư trú: Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa .
Tại phiên toà vắng mặt chị T, anh P. Chị T đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh P vắng mặt không có lý do lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 02/7/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Hà Thị T trình bày: Chị và anh Bùi Văn P kết hôn tự nguyện, đã tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương từ tháng 10/2000, nhưng mãi đến ngày 19/3/2001 mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy b an n h ân d ân xã Đ , huyệ n L, tỉ nh Thanh Hóa. Sau ngày cưới, cuộc sống vợ chồng hoà thuận được khoảng 08 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra cãi vã. Hai bên gia đình đã hoà giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2009 cho đến nay, không ai quan tâm tới ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh P.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Bùi Văn M , sinh ngày 09/7/2001 và cháu Bùi Anh Q, sinh ngày 13/6/2004. Hiện các cháu đã thành niên, có khả năng lao động. Chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản: Chị T không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ anh Bùi Văn P để làm bản tự khai, trình bày ý kiến về những nội dung yêu cầu khởi kiện của chị T nhưng anh P không có mặt nên không có lời khai của anh P và các bên không thống nhất được các vấn đề cần giải quyết trong vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Chị Hà Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn anh Bùi Văn P , nơi cư trú tại Thôn M, xã M, huyện N, tỉnh Thanh Hóa nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện N, tỉnh T theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS).
Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự nhưng anh P không có mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh P theo quy định tại khoản 3 điều 210 BLTTDS.
Anh P đã được triệu tập hợp lệ đến phiên hoà giải hai lần nhưng anh P đều không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207 BLTTDS.
Chị Hà Thị T đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Toà án đã triệu tập hợp lệ anh Bùi Văn P lần thứ hai đến Tòa án để tham gia phiên toà nhưng anh P vẫn vắng mặt mà không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 BLTTDS Toà án xét xử vắng mặt chị T, anh P.
[2] Về hôn nhân: Chị Hà Thị T và anh Bùi Văn P kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 19/3/2001 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyệ n L, tỉnh Thanh Hóa và không vi phạm các điều cấm của Luật Hôn nhân và gia đình, là hôn nhân hợp pháp. Trong cuộc sống hôn nhân, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2009 cho đến nay, không ai quan tâm tới ai. Về phía anh P, biết chị T làm đơn xin ly hôn và Tòa án cũng đã nhiều lần triệu tập anh P lên làm việc để anh P được bày tỏ quan điểm, ý kiến và nguyện vọng của mình nhưng anh P đều không có mặt, thể hiện anh P không thiết tha hàn gắn tình cảm vợ chồng. Điều đó chứng tỏ chị T, anh P đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị T được ly hôn anh P.
[3] Về con chung: Chị T và anh P có 02 con chung. Hiện các cháu đã thành niên, có khả năng lao động. Chị T không yêu cầu nên không xem xét.
[4] Về tài sản: Chị T không yêu cầu nên không xem xét.
[5] Về án phí: Chị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 51; 56; 57 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 28; 35; 39; 147; 227; 228; 238; 271; 273 BLTTDS; Điều 6; điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Hà Thị T được ly hôn anh Bùi Văn P .
2. Về án phí: Chị Hà Thị T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền chị đã nộp tạm ứng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện N, theo biên lai số 0004277 ngày 03/7/2024. Chị T đã nộp đủ tiền án phí.
Án xử công khai sơ thẩm. Chị T, anh P có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
Bản án về ly hôn số 76/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 76/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Ngọc Lặc - Thanh Hoá |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 10/09/2024 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về