Bản án về ly hôn số 25/2024/HNGĐ-ST

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML, TỈNH SL

BẢN ÁN 25/2024/HNGĐ-ST NGÀY 22/02/2024 VỀ LY HÔN

Ngày 22/02/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh SL, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 02 năm 2024 về việc: Tranh chấp ly hôn, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị LTD, sinh năm 1993.

Trú tại: Bản NX, xã CH, huyện ML, tỉnh SL. Có đề nghị xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh TVV, sinh năm 1987.

Trú tại: Bản NX, xã CH, huyện ML, tỉnh SL. Vắng mặt.

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Ngân hàng chính sách, xã hội huyện ML, tỉnh SL.

Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Đào Trọng D – Giám đốc là người đại diện theo pháp luật. Có đề nghị xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện đề ngày 15/12/2020 và trong quá trình xét xử nguyên đơn chị LTD trình bày:

Chị và anh TVV kết hôn trên cơ sở tự nguyện, ngày 16/11/2009 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã CH, huyện ML, tỉnh SL. Cuộc sống chung hạnh phúc đến năm 2017 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do anh TVV không chăm lo xây dựng gia đình và đi vào con đường nghiện ma túy. Mặc dù đã được gia đình hai bên khuyên giải nhưng không khắc phục được. Từ đó hai người sống không quan tâm đến cuộc sống của nhau. Chị LTD xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu được ly hôn anh TVV.

Về con chung: Có ba con là TTYT, sinh ngày 18/4/2010; TTT, sinh ngày 12/01/2012; TVM, sinh ngày 05/7/2017. Chị xin được nuôi dưỡng hai cháu gái, để anh TVV nuôi con trai, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, riêng: Đều không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ: Chị LTD công nhận nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện ML số tiền 25.000.000, đồng chị nhất trí là người trả nợ.

Bị đơn anh anh TVV từ chối trình bày: Căn cứ vào ý kiến của cơ sở và các tài liệu có trong hồ sơ, xác nhận quan hệ hôn nhân giữa chị LTD và anh TVV. Xác nhận nguyên nhân mâu thuẫn phù hợp với lời khai của nguyên đơn chị LTD. Xác định nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được và anh đồng ý ly hôn.

Về con chung: Có ba con là TTYT, sinh ngày 18/4/2010; TTT, sinh ngày 12/01/2012; TVM, sinh ngày 05/7/2017. Chị xin được nuôi dưỡng hai cháu gái, để anh TVV nuôi con trai, anh đồng ý, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, riêng: Đều không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ: Có nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện ML số tiền 25.000.000, đồng để vợ trả.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng chính sách, xã hội huyện ML, tỉnh SL trình bày:

Căn cứ sổ vay vốn mã khách hàng 160008xxxx, ngày 22/06/2017 Ngân hàng cho gia đình chị LTD và anh TVV vay theo chương trình hộ nghèo, số tiền gốc vay là 25.000.000, đồng. Nay hai người ly hôn Ngân hàng yêu cầu chị LTD là người có trách nhiệm thanh toán số tiền gốc là 25.000.000, đồng và lãi phát sinh.

Ý kiến của Kiểm sát viên: Việc áp dụng pháp luật tố tụng dân sự của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng quy định.

Về nội dung:

Căn cứ Điều 37; khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án:

Có căn cứ để xử cho chị LTD được ly hôn anh TVV.

Con chung: Giao cho chị LTD trực tiếp nuôi dưỡng cháu TTYT, sinh ngày 18/4/2010; TTT, sinh ngày 12/01/2012. Anh TVV trực tiếp nuôi dưỡng cháu TVM, sinh ngày 05/7/2017, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, riêng: Đều không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ: Chị LTD có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng Chính sách xã hội huyện ML, tỉnh SL: Khoản vay ngày 22/06/2017 số tiền vay gốc 25.000.000, đồng (hai mươi năm triệu đồng) và lãi phát sinh.

Chị LTD chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên toà và các quy định của pháp luật. Tòa án phân tích, đánh giá, nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Bị đơn anh TVV sau khi được thông báo về việc thụ lý vụ án, đã từ chối khai trình bầy nguyện vọng, đã được cấp tống đạt các văn bản tố tụng có xác nhận của Ủy ban nhân xã CH, huyện ML và đã triệu tập xét xử hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, theo quy định của điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự có đủ căn cứ xử vắng mặt anh TVV.

Nguyên đơn chị LTD, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng chính sách, xã hội huyện ML, tỉnh SL đều có đơn đề nghị xử vắng mặt. Căn cứ theo quy định của Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự có đủ căn cứ xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị LTD và anh TVV có đăng ký kết hôn, có tìm hiểu, tự nguyện là đúng pháp luật. Cuộc sống chung hoà thuận thời gian đầu, mâu thuẫn vợ chồng chủ yếu do anh TVV không chăm lo xây dựng gia đình và đi vào con đường nghiện ma túy. Hai người sống ly thân đến nay không quan tâm đến cuộc sống của nhau, xét mâu thuẫn vợ chồng không khắc phục được là có căn cứ.

Xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng chị LTD và anh TVV đã được gia đình và chính quyền khuyên giải, đã kéo dài, trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nay chị LTD yêu cầu được ly hôn là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình. Cần chấp nhận xử cho chị LTD được ly hôn anh TVV.

[3] Về con chung: Có ba con là TTYT, sinh ngày 18/4/2010; TTT, sinh ngày 12/01/2012; TVM, sinh ngày 05/7/2017. Chị xin được nuôi dưỡng hai cháu gái, để anh TVV nuôi con trai, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Căn cứ vào nguyện vọng của hai con gái muốn ở với mẹ và con trai muốn ở với bố. Cần chấp nhận giao hai cháu TTYT, TTT cho chị LTD trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu TVM cho anh TVV trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con, theo quy định của các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

[4] Về tài sản chung, riêng: Đều không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[5] Về nợ chung: Khoản nợ Ngân hàng Chính sách xã hội huyện ML được xác định là khoản vay nợ về xây dựng gia đình nằm trong chương trình hỗ trợ hộ nghèo. Hiện xác định chị LTD nhất trí thanh toán trả nợ, đồng thời đại diện Ngân hàng cũng có yêu cầu chị LTD là người có trách nhiệm trả nợ gốc là 25.000.000, đồng và lãi phát sinh. Theo quy định Điều 37 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Chấp nhận chị LTD có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng Chính sách xã hội huyện ML số tiền vay gốc là 25.000.000, đồng và lãi phát sinh.

Chị LTD đã được giải thích thủ tục miễn án phí, nhưng chị không cần miễn án phí. Chị LTD chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 37; khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số:

326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Toà án:

1. Xử cho chị LTD được ly hôn anh TVV.

2. Về con chung: Giao cho chị LTD trực tiếp nuôi dưỡng cháu TTYT, sinh ngày 18/4/2010; TTT, sinh ngày 12/01/2012. Anh TVV trực tiếp nuôi dưỡng cháu TVM, sinh ngày 05/7/2017, không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.

3. Về tài sản chung, riêng: Đều không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về nợ chung:

Chị LTD có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng Chính sách xã hội huyện ML, tỉnh SL: Khoản vay ngày 22/06/2017 số tiền vay gốc 25.000.000, đồng (hai mươi năm triệu đồng) và lãi phát sinh. Theo sổ vay vốn mã khách hàng 160008xxxx.

5. Về án phí: Chị LTD phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000, đồng (ba trăm nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001241 ngày 26/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện ML, tỉnh SL.

Chị LTD, anh TVV, Ngân hàng Chính sách xã hội huyện ML được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án”.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

104
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về ly hôn số 25/2024/HNGĐ-ST

Số hiệu:25/2024/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Mường La - Sơn La
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 22/02/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: [email protected]
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;