TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D, TỈNH KHÁNH HÒA
ÁN 17/2021/HNGĐ-ST NGÀY 26/03/2021 VỀ LY HÔN
Ngày 26 tháng 3 năm 2021, Tòa án nhân dân huyện D - tỉnh H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 352/2020/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2020 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 17/2021/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N - Sinh năm: 1978, “có mặt”, Địa chỉ: Thôn V, xã S, huyện D, tỉnh H.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Đình T - Sinh năm: 1981, “vắng mặt”, Địa chỉ: Thôn V, xã S, huyện D, tỉnh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện về việc xin ly hôn ngày 31/8/2020, bản tự khai ngày 27/10/2020 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày: Bà và ông Nguyễn Đình T tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S vào ngày 27/3/2006, thời gian đầu chung sống hạnh phúc. Đến khoảng tháng 10/2017, bà và ông T phát sinh mâu thuẫn do không cùng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, thường xuyên cải vã, ông T ham mê cờ bạc, không quan tâm đến vợ con, chung sống không hạnh phúc, không thể hàn gắn để xây dựng hạnh phúc gia đình, nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Nguyễn Đình T.
Về con chung: Bà N và ông T có 02 con chung là Nguyễn Đình Kh (sinh ngày 23/6/2006) và Nguyễn Đình A (sinh ngày 10/10/2008). Bà N yêu cầu được nuôi hai con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà N xác định không có nợ chung với ông T và không yêu cầu Tòa án giải quyết về yêu cầu chia tài sản chung.
Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với ông Nguyễn Đình T nhưng ông T không đến Tòa để Tòa án tiến hành thủ tục hòa giải theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông Nguyễn Đình T vắng mặt tại phiên tòa, nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Đình T tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã S. Bà N xác định bà và ông T phát sinh mâu thuẫn, không khắc phục được nên chung sống không hạnh phúc. Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng ông T không đến Tòa để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nên Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông T đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cần chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Nguyễn Đình T là phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về nuôi con chung, cấp dưỡng nuôi con chung: Bà N yêu cầu nuôi hai con chung, hai con chung đều trình bày có nguyện vọng được bà N trực tiếp nuôi. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng ông T không đến Tòa để trình bày ý kiến hay yêu cầu về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung. Do đó, cần giao con chung Nguyễn Đình Kh (sinh ngày 23/6/2006) và Nguyễn Đình A (sinh ngày 10/10/2008) cho bà N trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung là phù hợp.
Bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung, ông T cũng không đến Tòa để trình bày ý kiến về cấp dưỡng nuôi con chung nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của ông T. Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
[4] Về tài sản chung và nợ chung: Bà N xác định không có nợ chung với ông T và không yêu cầu Tòa án giải quyết về yêu cầu chia tài sản chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Bà Nguyễn Thị N phải nộp tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị N.
Bà Nguyễn Thị N được ly hôn ông Nguyễn Đình T.
2. Về con chung:
- Giao hai con chung Nguyễn Đình Kh (sinh ngày 23/6/2006) và Nguyễn Đình A (sinh ngày 10/10/2008) cho bà Nguyễn Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.
- Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung của ông Nguyễn Đình T.
- Ông T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
Quá trình nuôi dưỡng con chung, nếu xét thấy cần thiết, bà Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Đình T đều có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết về thay đổi người trực tiếp nuôi con chung, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2019/0001827 ngày 13 tháng 10 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện D. Do đó, bà N đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Bản án về ly hôn số 17/2021/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 17/2021/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Diên Khánh - Khánh Hoà |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 26/03/2021 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về