TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHO QUAN - NINH BÌNH
BẢN ÁN 43/2024/HNGĐ-ST NGÀY 09/08/2024 VỀ LY HÔN, GIẢI QUYẾT CON CHUNG KHI LY HÔN
Ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nho Quan mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 32/2024/TLST- HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2024 về việc: “Ly hôn, giải quyết về con chung khi ly hôn”. theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị D, sinh năm 1983 Địa chỉ: Thôn 3, xã Ph, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1969 Địa chỉ: Thôn 3, xã Ph, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Các đương sự vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện đề ngày 15 tháng 02 năm 2024, bản tự khai và các biên bản hòa giải, nguyên đơn Chị Trần Thị D trình bày:
Về diễn biến quan hệ hôn nhân và gia đình: Chị và Anh Nguyễn Văn H kết hôn năm 2001, trên cơ sở tự nguyện, có thực hiện việc đăng ký kết hôn tại UBND xã Ph, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Sau khi cưới anh chị sinh sống tại Thôn 3, xã Ph, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Tuy nhiên hai bên chỉ chung sống hạnh phúc được khoảng 6 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do kinh tế khó khăn, vợ chồng không thống nhất được làm ăn và nuôi dậy con cái. Nguyên nhân chính do anh H thường xuyên uống rượu say về chửi bới đánh đập chị. Năm 2020 chị đã làm đơn xin ly hôn với anh H tại Tòa án Nho Quan, tuy nhiên do nghĩ đến con cái chị đã rút đơn về để vợ chồng đoàn tụ nhưng anh H vẫn chứng nào tật ấy. Hiện tại anh chị đã ly thân, không ai quan tâm đến ai về mọi mặt. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể đoàn tụ, vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với Anh Nguyễn Văn H để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị D xác định chị và anh H có 02 con chung là các cháu: Nguyễn Đăng K sinh ngày 26/10/2006; Nguyễn Thị Thsinh ngày 16/02/2011. Hiện cả hai cháu đang ở với chị. Nguyện vọng của chị xin được tiếp tục nuôi cháu T, cháu K sẽ ở với anh H. Kông ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của Anh Nguyễn Văn H: Anh xác định thời điểm kết hôn và chung sống như chị D trình bày là đúng. Tuy nhiên theo anh mâu thuẫn giữa anh và chị D là mâu thuẫn nhỏ, hiện chị D đã đi nơi khác ở, chị D xin ly hôn với anh thì anh không nhất trí vì anh còn tình cảm với chị D. Trường hợp chị D vẫn cương quyết xin ly hôn với anh thì anh đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Do anh không đồng ý ly hôn nên anh không có ý kiến. Về tài sản chung, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh.
Ý kiến cháu Nguyễn Đăng K: Cháu xin được ở với bố. Ý kiến cháu Nguyễn Thị Th: Cháu xin được ở với mẹ Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Nho Quan đã tiến hành giải quyết theo quy định. Do bị đơn không đến tham gia các phiên hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được, vì vậy vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Do bị đơn có nơi cư trú tại xã Ph, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình nên Toà án nhân dân huyện Nho Quan thụ lý giải quyết tranh chấp là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Việc xác định quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn khởi kiện, Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là“Ly hôn, giải quyết về con chung khi ly hôn” là đúng quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Quyết định đưa vụ án ra xét xử đảm bảo về hình thức, nội dung
- Thời hạn gửi hồ sơ, văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát: Đảm bảo quy định của pháp luật, việc tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Việc giao nộp tài liệu chứng cứ: Thực hiện đúng các quy định tại Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, các tài liệu là bản sao đều có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71. Bị đơn không thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Đề nghị HĐXX: Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 5, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Áp dụng Koản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị tuyên:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Chị Trần Thị D. Xử ly hôn giữa Chị Trần Thị D và Anh Nguyễn Văn H.
2.Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Đăng K sinh ngày 26/10/2006 cho anh H chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và tự lập. Giao cháu Nguyễn Thị T sinh ngày 16/02/2011 cho chị D chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi và tự lập. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
3. Về án phí ly hôn: Chị Trần Thị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí Toà án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật “Ly hôn, giải quyết về con chung khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn có nơi cư trú tại xã Ph, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình nên Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình thụ lý vụ án là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2]. Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa HĐXX nhận thấy:
[2.1]. Về hôn nhân:
Quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh H là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên hai bên chỉ chung sống hạnh phúc được với nhau thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai bên không hợp nhau về mọi mặt, nguyên nhân chính là do anh H thường xuyên uống rượu không chăm lo cho gia đình và vợ con. Bản thân anh H không muốn ly hôn nhưng anh cũng không có biện pháp để cải thiện tình cảm vợ chồng, khi Tòa án báo gọi hòa giải anh cũng không đến tham gia. Thực tế hai bên đã ly thân, không quan tâm gì đến nhau. Điều đó chứng tỏ quan hệ hôn nhân giữa hai bên chỉ còn tồn tại về mặt hình thức, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D với anh H là có căn cứ, phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2]. Về nuôi con chung: Chị D và anh H có hai con chung là các cháu Nguyễn Đăng K sinh ngày 26/10/2006; Nguyễn Thị Th sinh ngày 16/02/2011. Nguyện vọng của chị D xin được trực tiếp tục nuôi cháu T, cháu K để anh H nuôi. Ý kiến cháu K cũng muốn được ở với bố để còn chăm lo lúc bố ốm đau, cháu Th xin ở với mẹ. Hội đồng xét xử xét thấy: Chị D khỏe mạnh, có thu nhập, cháu T là con gái còn nhỏ cũng có nguyện vọng ở với mẹ, cháu K đã lớn muốn ở gần bố để đỡ đần cho bố. Vì vậy để đảm bảo sự ổn định cho các cháu cũng như nguyện vọng của các bên nên giao cháu T cho chị D, giao cháu K cho anh H được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng, là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do các đương sự không có yêu cầu nên không đặt ra việc xem xét giải quyết trong vụ án này.
[2.3]. Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[2.4]. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị D phải chịu theo quy định tại Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí Toà án.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ: Các điều 147, 227, 228, 238, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Áp dụng:
- Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;
- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí Toà án.
1. Về hôn nhân: Cho Chị Trần Thị D được ly hôn Anh Nguyễn Văn H.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Nguyễn Đăng K sinh ngày 26/10/2006 cho anh H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác. Giao cháu Nguyễn Thị T sinh ngày 16/02/2011 cho chị D trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con chung cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị D phải chịu theo quy định của pháp luật là 300.000 đồng. Được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị D đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001154 ngày 15/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nho Quan.
4. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./
Bản án về ly hôn, giải quyết con chung khi ly hôn số 43/2024/HNGĐ-ST
| Số hiệu: | 43/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Nho Quan - Ninh Bình |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 09/08/2024 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về