Bản án về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động số 01/2024/LĐ-PT

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

BẢN ÁN 01/2024/LĐ-PT NGÀY 06/03/2024 VỀ ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG

Ngày 06 tháng 3 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 02/2023/TLPT-LĐ ngày 06 tháng 11 năm 2023 về việc “đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.

Do bản án Lao động số 01/2023/LĐ-ST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐ-PT ngày 13 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị T, sinh năm 1993; Địa chỉ: Xóm T, xã Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên tòa). Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

- Ông Lê Quang H, sinh năm 1977; Địa chỉ: Tổ dân phố số H, phường T, quận N, thành phố Hà Nội (có mặt tại phiên tòa).

2. Bị đơn: Công ty Cổ phần B. Địa chỉ: Số C, đường L, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng T1, Chủ tịch Hội đồng quản trị (vắng mặt tại phiên tòa).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vũ Vinh Q, người phụ trách quản trị của Công ty;

Địa chỉ: Số C, đường L, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên tòa).

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Thanh H1, sinh năm 1982;

Địa chỉ: Tổ A, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm, nguyên đơn bà Trần Thị T trình bày: Ngày 12/10/2018, bà ký Hợp đồng lao động không xác định thời hạn số 167/HĐLĐBVQT với Công ty Cổ phần B (sau đây gọi tắt là Công ty). Theo nội dung hợp đồng, bà làm việc ở Công ty với chức vụ là Bác sỹ điều trị tại khoa Liên chuyên khoa, mức lương chính là 3.883.000 đồng/1 tháng. Theo nội dung của bản cam kết, sau khi kết thúc các khóa học, đào tạo do Công ty cử đi học thì bà phải làm việc tối thiểu 07 năm tại Công ty, trong quá trình đi học sẽ được Công ty C phụ cấp trong thời gian đào tạo gồm học phí và tiền hỗ trợ sinh hoạt hàng tháng 5.000.000đ/1 tháng. Từ tháng 10/2018 đến tháng 07/2019, bà được Công ty cử đi học lớp định hướng chuyên khoa mắt. Ngày 20/4/2019, bà và Công ty có ký văn bản thỏa thuận về việc thực hiện cam kết làm việc sau khi đào tạo nghề, nội dung bản cam kết dựa trên bản cam kết đã ký giữa bà với Công ty vào ngày 12/10/2018. Theo nội dung cam kết, bà được Công ty cử đi học 02 khóa học là: Lớp định hướng chuyên khoa mắt tại Đại học Y, thời gian đào tạo 08 tháng, học phí 32.000.000đồng và khóa học Phẫu thuật tạo hình - thẩm mỹ khóa XI tại Bệnh viện M, thời gian đào tạo 03 tháng, học phí 18.000.000đồng. Tổng chi phí đào tạo và hỗ trợ mà phía Công ty đã chi trả là 123.972.817 đồng. Đồng thời, cùng nội dung văn bản thỏa thuận nêu trên, Công ty giữ 02 văn bằng, chứng chỉ của bà gồm: Bằng tốt nghiệp Đại học Y được Thái Nguyên và Chứng chỉ tốt nghiệp khóa học định hướng chuyên khoa mắt và giao cho bên thứ ba do Công ty L là bà Nguyễn Thị Thanh H1, thời điểm đó đang là nhân viên phòng Tổ chức hành chính của Công ty.

Ngày 07/10/2019 đến ngày 15/01/2020, bà đi học lớp Phẫu thuật thẩm mỹ tạo hình tại Bệnh viện M. Sau khi học xong, từ ngày 16/01/2020 đến ngày 09/3/2021, bà trở lại làm việc và được phân công về làm tại Bệnh viện Đ, Thái Nguyên, đây là cơ sở khác của Công ty. Ngày 10/3/2021 đến ngày 09/10/2021 bà nghỉ thai sản. Ngày 10/10/2021, bà được Bệnh viện Đ, Thái Nguyên cho nghỉ không lương do dịch bệnh Covid-19, Bệnh viện C1. Từ ngày 10/12/2021 đến ngày 11/7/2022, bà quay lại làm việc tại Bệnh viện Đ, Thái Nguyên. Trong khoảng thời gian này, ngày 23/5/2022 bà làm đơn xin thôi việc và nộp cho Phòng Tổ chức hành chính của Bệnh viện Đ, Thái Nguyên nhưng không được phía Công ty trả lời. Ngày 12/7/2022 bà chính thức nghỉ việc.

Ngày 18/7/2022, bà làm văn bản đề nghị giải quyết nghỉ việc gửi cho Tổng giám đốc Công ty. Ngày 04/8/2022, bà nhận được trả lời của Công ty, trong đó yêu cầu bà bồi thường một khoản tiền bằng 04 lần khoản tiền bà được hỗ trợ để đi đào tạo nghề. Bà không đồng ý với yêu cầu này của phía Công ty. Do Công ty không làm thủ tục giải quyết thôi việc cho bà nên bà đã làm đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố T những vấn đề sau:

- Yêu cầu Tòa án xác định hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của bà với Công ty là đúng pháp luật.

- Buộc Công ty phải tiến hành giải quyết các thủ tục nghỉ việc cho bà theo quy định của pháp luật, bao gồm: Ra Quyết định nghỉ việc, rút hồ sơ đăng ký hành nghề khám chữa bệnh tại Sở Y1, chốt số bảo hiểm xã hội.

- Buộc Công ty và bà Nguyễn Thị Thanh H1 phải trả lại cho bà bản chính Bằng tốt nghiệp Đại học và Chứng chỉ định hướng chuyên khoa mắt.

Bà không đồng ý với yêu cầu phản tố của phía bị đơn, yêu cầu bà phải bồi thường số tiền gấp 04 lần chi phí đào tạo là 495.891.268 đồng.

Bị đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Về quá trình ký kết hợp đồng lao động, thời gian công tác, thời gian bà T nghỉ làm, thời gian bà T được cử đi đào tạo các khóa học, số tiền phía công ty đã hỗ trợ cho bà T trong các khóa học (gồm học phí và chi phí hỗ trợ, tổng là 123.972.817 đồng) như bà T đã trình bày là đúng. Tuy nhiên, bà T cho rằng Công ty và bà H1 giữ Bằng tốt nghiệp Đại học Y2 và Chứng chỉ định hướng chuyên khoa mắt của bà là không đúng. Theo hợp đồng gửi giữ thì phía Công ty và bà T có lập hợp đồng gửi giữ, theo đó gửi các văn bằng, chứng chỉ nêu trên của bà T cho bà Nguyễn Thị Thanh H1 giữ.

Đối với các yêu cầu của bà T, phía Công ty có ý kiến như sau:

- Đối với yêu cầu của bà T về việc xác nhận hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật. Phía Công ty xác định bà T tự ý chấm dứt hợp đồng lao động, Công ty chưa nhận được thông báo về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của bà T. Bà T có đơn xin nghỉ việc vào ngày 23/5/2022 nhưng chưa được Công ty đồng ý. Đến ngày 12/7/2022 bà T tự ý nghỉ việc không được sự đồng ý của Công ty.

- Đối với yêu cầu buộc Công ty và bà H1 trả 02 văn bằng, chứng chỉ. Phía Công ty xác định không giữ văn bằng, chứng chỉ của bà T mà bà H1 là người giữ theo hợp đồng dân sự được phía Công ty và bà T là bên gửi giữ và bà H1 là bên nhận gửi giữ.

Ngày 21/7/2023, Công ty Cổ phần B có đơn yêu cầu phản tố, yêu cầu bà T phải chịu phạt do vi phạm số tiền gấp 04 (bốn) lần chi phí đào tạo là 495.891.268 đồng (bốn trăm chín mươi lăm triệu, tám trăm chín mươi mốt nghìn, hai trăm sáu mươi tám đồng) và chịu lãi suất với mức 20%/1 năm, tạm tính từ ngày 12/8/2022 đến ngày 12/7/2023 là 11 tháng, tương đương với số tiền là 90.913.399 đồng (chín mươi triệu, chín trăm mười ba nghìn, ba trăm chín mươi chín đồng).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh H1 trình bày: Ngày 09/10/2019, bà được Tổng giám đốc Công ty và bà T gọi sang làm việc và trao đổi là Công ty và bà T muốn gửi giữ giấy tờ, tài liệu tại két sắt cá nhân của bà, bà đồng ý. Các bên có xác lập bằng văn bản nội dung và các tài liệu gửi giữ gồm: Bằng tốt nghiệp Đại học Y2 và Chứng chỉ định hướng chuyên khoa mắt, các văn bằng, chứng chỉ trên đều là bản chính. Việc gửi giữ không phát sinh chi phí. Bà H1 xác định hợp đồng gửi giữ nêu trên xác lập trên cơ sở quan hệ pháp luật dân sự và hoàn toàn trên ý chí tự nguyện của các bên. Công ty không bắt bà phải giữ giấy tờ của bà T. Bà H1 xác định hiện nay bà là người đang giữ các tài liệu nêu trên của bà T. Việc trả các giấy tờ của bà T là do bà quyết định, căn cứ vào các nội dung đã thỏa thuận trong văn bản gửi giữ đã ký kết, không phải bà T hay Công ty đơn phương quyết định là được. Bà đề nghị nếu bà T muốn nhận lại giấy tờ thì phải liên hệ trực tiếp với bà. Bà không nhất trí với toàn bộ quan điểm nêu trên của bà T.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên có quan điểm:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị T, tuyên bố hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của bà Trần Thị T với Công ty Cổ phần B đúng pháp luật.

- Buộc Công ty Cổ phần B ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà Trần Thị T.

- Buộc Công ty Cổ phần B hoàn thành các thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp của bà Trần Thị T.

- Buộc Công ty Cổ phần B làm thủ tục rút đăng ký hành nghề khám chữa bệnh tại Sở Y tế tỉnh Y1 cho bà Trần Thị T.

2. Buộc Công ty Cổ phần B và bà Nguyễn Thị Thanh H1 phải trả lại cho bà Trần Thị T:

- 01 (một) bản chính Bằng tốt nghiệp đại học số 0004943, ngày cấp 10/7/2018, do Hiệu trưởng trường Đại học Y2 cấp cho bà Trần Thị T.

- 01 (một) bản chính Chứng chỉ định hướng chuyên khoa số: 191011/ĐH ĐHYHN-ĐTDV, ngày cấp 05/8/2019 do Hiệu trưởng trường Đại học Y cấp cho bà Trần Thị T.

3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Công ty Cổ phần B: Buộc bà Trần Thị T phải bồi hoàn cho Công ty Cổ phần B số tiền là 123.972.817 đồng (một trăm hai mươi ba triệu, chín trăm bảy mươi hai nghìn, tám trăm mười bảy đồng).

Không chấp nhận yêu cầu của Công ty Cổ phần B về việc buộc bà Trần Thị T phải bồi hoàn số tiền 371.918.451 đồng do vi phạm cam kết và tiền lãi.

Với nội dung nêu trên tại bản án số 01/2023/LĐST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử và quyết định:

- Căn cứ: Điểm a khoản 1 Điều 32; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 228; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 9 Điều 34; điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 48, Điều 62 của Bộ luật lao động; Khoản 2 Điều 61 Luật giáo dục nghề nghiệp; Khoản 5 Điều 21 Luật bảo hiểm xã hội; Điểm b khoản 1 Điều 14 của Nghị định số 109/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định về cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hành nghề đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị T, tuyên bố hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của bà Trần Thị T với Công ty Cổ phần B đúng pháp luật.

- Buộc Công ty Cổ phần B ra quyết định chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà Trần Thị T.

- Buộc Công ty Cổ phần B hoàn thành các thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp của bà Trần Thị T.

- Buộc Công ty Cổ phần B làm thủ tục rút đăng ký hành nghề khám chữa bệnh tại Sở Y tế tỉnh Y1 cho bà Trần Thị T.

2. Buộc Công ty Cổ phần B và bà Nguyễn Thị Thanh H1 phải trả lại cho bà Trần Thị T:

- 01 (một) bản chính Bằng tốt nghiệp đại học số 0004943, ngày cấp 10/7/2018, do Hiệu trưởng trường Đại học Y2, Đại học T cấp cho bà Trần Thị T.

- 01 (một) bản chính Chứng chỉ định hướng chuyên khoa số: 191011/ĐH ĐHYHN-ĐTDV, ngày cấp 05/8/2019 do Hiệu trưởng trường Đại học Y cấp cho bà Trần Thị T.

3. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của Công ty Cổ phần B: Buộc bà Trần Thị T phải bồi hoàn cho Công ty Cổ phần B số tiền là 123.972.817 đồng (một trăm hai mươi ba triệu, chín trăm bảy mươi hai nghìn, tám trăm mười bảy đồng).

Không chấp nhận yêu cầu của Công ty Cổ phần B về việc buộc bà Trần Thị T phải chịu phạt số tiền là 371.918.451 đồng (ba trăm bảy mươi mốt triệu, chín trăm mười tám nghìn, bốn trăm năm mươi mốt đồng), lãi suất tính đến ngày xét xử là 98.000.000 đồng (chín mươi tám triệu đồng) và lãi suất 20%/1 năm tính từ ngày tiếp theo của ngày xét xử.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 13/9/2023, Công ty Cổ phần B có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm hoặc sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung đã kháng cáo.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nghe lời trình bày của các đương sự; Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Hội đồng xét xử nhận xét:

[1]. Về các kháng cáo của Công ty: Do có nhu cầu sử dụng lao động nên giữa bà T và Công ty có ký hợp đồng lao động số 167/HĐLĐ-BVQT ngày 12/10/2018. Hợp đồng lao động được các bên ký kết là loại hợp đồng không xác định thời hạn. Hợp đồng tuân thủ đúng hình thức, nội dung và các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng lao động theo quy định tại Bộ luật Lao động năm 2012 đang có hiệu lực pháp luật, nên được xác định là hợp pháp như cấp sơ thẩm nhận định là có căn cứ.

[2]. Xét hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của bà Trần Thị T với Công ty có đúng theo pháp luật hay không thấy rằng: Ngày 23/5/2022 bà T nộp đơn xin thôi việc cho Phòng tổ chức hành chính của Bệnh viện Đ, Thái Nguyên nhưng Công ty không có văn bản trả lời. Ngày 12/7/2022 bà T chính thức nghỉ việc. Thời gian từ khi bà T nộp đơn cho đến ngày nghỉ việc là 50 ngày. Như vậy bà T đã thực hiện đúng theo quy định tại khoản 9 Điều 34; điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật lao động 2019.

[3]. Về việc Công ty giữ giấy tờ của bà T thì thấy rằng: Tại Văn bản thỏa thuận về việc gửi giữ giấy tờ, tài liệu lập ngày 09/10/2019, giữa hai bên có nội dung: " Bên A - Bên gửi giữ giấy tờ gồm Công ty cổ phần B ... Đại diện theo ủy quyền giao kết thỏa thuận: Ông Lê Xuân T2 - Chức vụ: Tổng Giám đốc ... và người có giấy tờ là Trần Thị T... Bên B - Bên nhận giữ giấy tờ ... Nguyễn Thị Thanh H1,...”. Như vậy Công ty đã ký thỏa thuận với bà T về việc giữ bản chính các văn bằng, chứng chỉ của người lao động từ khi ký kết hợp đồng lao động là đã vi phạm những điều mà người sử dụng lao động không được làm khi thực hiện hợp đồng lao động, được quy định tại khoản 1 Điều 20 của Bộ luật Lao động năm 2012 đang có hiệu lực pháp luật như cấp sơ thẩm nhận định là có căn cứ. Tòa án cấp sơ thẩm buộc Công ty và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Thanh H1 phải trả lại cho bà Trần Thị T 02 (hai) văn bằng, chứng chỉ là có cơ sở.

[4]. Công ty yêu cầu bà T phải chịu phạt vi phạm gấp 04 (bốn) lần số tiền Công ty đã bỏ ra chi phí đào tạo cho bà T thì thấy rằng: Tại Điều 40 của Bộ luật Lao động quy định: Trong trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, người lao động cũng chỉ phải bồi thường bằng một nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương trong hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước, ngoài ra phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật Lao động 2019. Như vậy những trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật, Bộ luật Lao động không có quy định cho phép các bên thỏa thuận về việc chịu phạt hay bồi thường như cấp sơ thẩm nhận định là có căn cứ.

[5]. Theo quy định tại Điều 61 Luật giáo dục nghề nghiệp có quy định: 1... 2. Người tốt nghiệp các khóa đào tạo do người sử dụng lao động cấp học bổng, chi phí đào tạo phải làm việc cho người sử dụng lao động theo thời hạn đã cam kết trong hợp đồng đào tạo; trường hợp không thực hiện đúng cam kết thì phải bồi hoàn học bổng, chi phí đào tạo". Theo quy định trên bà T và Công ty có thỏa thuận sau khi được Công ty cử đi học thì phải làm việc tối thiểu 07 năm, bà T nghỉ việc trước thời hạn nên bà T có nghĩa vụ phải bồi hoàn toàn bộ chi phí đào tạo là có căn cứ. Từ những phân tích nêu trên thấy rằng không có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[6]. Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh phát biểu về sự tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát không chấp nhận kháng cáo của Công ty giữ nguyên bản án lao động sơ thẩm số 01/2023/LĐST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Nguyên là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Không chấp nhận kháng cáo của Công ty Cổ phần B.

1. Giữ nguyên bản án lao động sơ thẩm số 01/2023/LĐST ngày 31/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

2. Về án phí phúc thẩm: Buộc Công ty Cổ phần B phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí lao động phúc thẩm. Xác nhận Công ty đã nộp đủ án phí phúc thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000509 ngày 28/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

141
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động số 01/2024/LĐ-PT

Số hiệu:01/2024/LĐ-PT
Cấp xét xử:Phúc thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thái Nguyên
Lĩnh vực:Lao động
Ngày ban hành: 06/03/2024
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: [email protected]
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;