TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
BẢN ÁN 72/2024/DS-ST NGÀY 13/05/2024 VỀ ĐÒI LẠI TÀI SẢN
Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 22/2024/TLST-DS ngày 12/01/2024 về việc “Đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số5 6/2024/QĐST - DS ngày 01 tháng 4 năm 2024 (Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2024/QĐST - DS ngày 17 tháng 4 năm 2024) giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị N, sinh năm 1968 (có mặt);
Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc Đ, sinh năm 1959 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện ngày 06/11/2023 và trong quá trình tố tụng nguyên đơn bà Võ Thị N trình bày:
Bà có vay ngân hàng số tiền 36.000.000 đồng để nuôi bò và xây nhà cầu (nhà vệ sinh), chưa đến hạn nhưng do có tiền bà đem tiền đến nhờ bà Nguyễn Thị Ngọc Đ trả dùm, vì bà Đ thường giúp các hộ dân làm hồ sơ vay tiền. Khi đưa tiền cho bà Đ, bà nói phải có giấy để sau này nói bà không đưa tiền, bà Đ viết giấy có con là Nguyễn Thị Bé B và người hàng xóm là Trần Thị Kim H ký tên. Khoảng 3- 4 tháng sau thì Ngân hàng đòi tiền nên mới biết bà Đ trả 6.000.000 đồng còn lại 30.000.000 đồng thì bà Đ chưa trả Ngân hàng. Bà Đ né tránh không trả tiền cho bà nên bà mới khởi kiện. Bà yêu cầu bà Đ trả số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
* Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Đ đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do.
Tại Tòa:
* Nguyên đơn bà Võ Thị N trình bày: Bà vay tiền nuôi bò, xây nhà cầu (nhà vệ sinh) số tiền 36.000.000 đồng, bà vay tiền thuộc diện nhà nước hỗ trợ vay vốn cho người dân. Bà Đ làm ở ấp A, xã A thường xuyên hỗ trợ người dân làm hồ sơ vay. Số tiền vay chưa đến hạn nhưng do có tiền nên bà gởi bà Đ trả cho Ngân hàng. Khi đưa tiền cho bà Đ, bà kêu bà Đ viết giấy thì bà Đ viết giấy mượn tiền đưa cho bà; giấy mượn tiền có bà Đ, con bà Đ là Nguyễn Thị Bé B và có người hàng xóm là Trần Thị Kim H ký tên. Bà xác định, bà và bà Đ không có việc vay mượn tiền. Khoảng 3- 4 tháng tính từ ngày bà gởi tiền cho bà Đ trả thì Ngân hàng đòi tiền thì bà phát hiện bà Đ chỉ trả 6.000.000 đồng còn 30.000.000 đồng thì chưa trả. Bà đến gặp thì bà Đ né tránh. Bà giữ nguyên yêu cầu, yêu cầu bà Đ trả số tiền 30.000.000 đồng. Trường hợp bà Đ kéo dài không trả thì yêu cầu tính lãi trong giai đoạn thi hành án.
* Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát:
Về thủ tục: Trong quá trình tố tụng, Thẩm phán đã tuân thủ và tiến hành đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng. Hội đồng xét xử tiến hành đúng trình tự thủ tục phiên tòa. Đương sự, nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình; bị đơn được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên chưa thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình.
Về nội dung: Bà Võ Thị N cho rằng bà Nguyễn Thị Ngọc Đ thiếu số tiền 36.000.000 đồng đã trả 6.000.000 đồng, bà N yêu cầu bà Đ trả số tiền 30.000.000 đồng là phù hợp với giấy mượn tiền. Giấy mượn tiền có chữ ký của bà Đ, bà N và chị Nguyễn Thị Bé B (con bà Đ), chị Bé B thừa nhận chữ ký là của chị. Do vậy, bà N yêu cầu bà Đ trả số tiền 30.000.000 đồng là có cơ sở. Căn cứ Điều 166, 468 Bộ luật dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N, buộc bà Đ trả cho bà N số tiền 30.000.000 đồng. Ấn phí đương sự nộp theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa, qua kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Đ đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do. Do đó, việc đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà Đ là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Bà N khởi kiện bà Nguyễn Thị Ngọc Đ trả số tiền mà bà nhờ bà Đ trả tiền vay Ngân hàng nhưng bà Đ chỉ trả 6.000.000 đồng còn 30.000.000 đồng không trả. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này được xác định là “Đòi lại tài sản” theo quy định tại Điều 166 của Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
[1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị N yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Đ trả số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Trường hợp chậm trả thì yêu cầu tính lãi trong giai đoạn thi hành án. Hội đồng xét xử xét thấy:
Do bà Võ Thị N tin tưởng bà Nguyễn Thị Ngọc Đ là Chị hội trưởng phụ nữ ấp và là người làm trung gian giữa Ngân hàng và các hộ dân trong ấp nên nhờ bà Đ trả tiền vay cho Ngân hàng số tiền 36.000.000 đồng nhưng bà Đ chỉ trả 6.000.000 đồng còn 30.000.000 đồng không trả. Việc bà N giao tiền cho bà Đ thể hiện qua giấy mượn tiền, giấy mượn tiền có bà Đ và con bà Đ là chị Nguyễn Thị Bé B ký tên; theo biên bản lấy lời khai thì chị Bé B xác nhận chữ ký trong giấy mượn tiền là của chị. Bà Đ đã được Toà án triệu tập đạt hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do; điều đó đồng nghĩa với việc bà Đ tự tước đi quyền phản bác ý kiến đối với yêu cầu của bà N. Xét do bị đơn không trả lại số tiền cho nguyên đơn nên nguyên đơn khởi kiện là phù hợp theo Điều 166 Bộ luật dân sự là phù hợp nên được chấp nhận.
[2] Xét quan điểm đề nghị giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[3] Về án phí DS - ST: Nguyên đơn được chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Đ phải chịu án phí 30.000.000 đồng x 5% = 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166, 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị N. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Đ trả cho bà Võ Thị N số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
2. Về án phí DS-ST: Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc Đ phải chịu 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) và có nghĩa vụ nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện B.
H1 lại cho nguyên đơn bà Võ Thị N số tiền tạm ứng án phí đã nộp 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000190 ngày 22/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Báo cho nguyên đơn biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.
Bản án về đòi lại tài sản số 72/2024/DS-ST
| Số hiệu: | 72/2024/DS-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Ba Tri - Bến Tre |
| Lĩnh vực: | Dân sự |
| Ngày ban hành: | 13/05/2024 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về