TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH TUYÊN QUANG
BẢN ÁN 270/2024/HNGĐ-ST NGÀY 19/09/2024 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH, XIN LY HÔN VÀ NUÔI CON KHI LY HÔN
Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức số hóa vụ án thụ lý số 221/2024/TLST-HNGĐ, ngày 08/8/2024 về việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình “Xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 27/8/2024, Thông báo hoãn phiên toà số 52/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12/9/2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Diệu T, sinh năm 1994;
Địa chỉ: Khu C, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ;
2. Bị đơn: Anh Trần Quang A, sinh năm 1988; Địa chỉ: Thôn H, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang (Các đương sự đều có mặt tại phiên toà)
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo nội dung Đơn khởi kiện, Bản tự khai, Biên bản hòa giải, nguyên đơn chị Hoàng Diệu T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Quang A sau một thời gian quen biết tìm hiểu đã quyết định đi đến hôn nhân. Anh chị đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 28/5/2015, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện. Sau khi được 2 bên gia đình cưới hỏi theo phong tục địa phương, anh chị về chung sống tại nhà anh A ở thôn H M, xã Y, huyện H. Cuộc sống vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc được thời gian đầu đến năm 2022 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và trong làm ăn kinh tế. Vợ chồng ly thân nhau từ đó, thời gian trước chỉ đi làm ở Hà Nội, từ tháng 12/2023 chị và con về nhà riêng ở khu C, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Chị đã từng 2 lần nộp đơn ra Toà án để giải quyết ly hôn nhưng anh A đều không hợp tác. Chị xác định tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn trở nên trầm trọng kéo dài, không thể đoàn tụ xây dựng hạnh phúc gia đình. Vì vậy chị đề nghị Toà án nhân dân huyện H giải quyết cho chị được ly hôn với anh A.
Về con chung: Anh chị có 1 con chung tên là Trần Gia V, sinh ngày 05/5/2016. Hiện cháu đang ở với chị T, cháu được chị trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng từ nhỏ, hiện đang học ở dưới huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Ly hôn chị nhận nuôi cháu mà không yêu cầu anh A phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, vay nợ chung: Anh chị không có, nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
* Theo Bản tự khai, Biên bản hòa giải, bị đơn anh Trần Quang A trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh nhất trí với ý kiến của chị T về quá trình tìm hiểu và đi đến hôn nhân của hai bên. Anh chị là vợ chồng có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 28/5/2015, trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương. Sau khi kết hôn anh chị về chung sống tại nhà anh. Cuộc sống vợ chồng thời gian đầu hạnh phúc sau thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị T có quan hệ với người khác, phá vỡ hạnh phúc gia đình. Vợ chồng ly thân nhau từ năm 2022, không ai quan tâm gì đến ai. Anh xác định tình cảm vợ chồng đã không còn, mâu thuẫn trở nên trầm trọng kéo dài, không thể đoàn tụ xây dựng hạnh phúc gia đình. Vì vậy chị T xin ly hôn, anh đồng ý.
Về con chung: Anh chị có 1 con chung tên là Trần Gia V, sinh ngày 05/5/2016. Ly hôn anh nhận nuôi con chung mà không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, vay nợ chung: Anh chị không có, nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết, Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ tại địa phương với bà Bàn Thị N, trưởng thôn 8 M, xã Y, huyện H, kết quả thể hiện: Anh Trần Quang A hiện có hộ khẩu nơi cư trú tại thôn H M, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Chị Hoàng Diệu T là vợ của anh A, anh chị kết hôn với nhau từ năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Y. Trước khi lấy chị T, anh A cũng đã có 1 đời vợ, tên là M. Sau khi kết hôn chị T về chung sống và nhập khẩu vào gia đình anh A ở thôn H M, xã Y. Cuộc sống chung của hai vợ chồng ban đầu hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Sau khi phát sinh mâu thuẫn thì chị T chuyển đi nơi khác, không chung sống với anh A nữa, vợ chồng ly thân nhau. Do đó chính quyền địa phương xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh A đã đến mức trầm trọng nên đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu xin ly hôn của chị T theo quy định của pháp luật. Về con chung vợ chồng anh chị có 1 con chung tên là Trần Gia V, sinh ngày 05/5/2016. Kể từ khi chị T và anh A sống ly thân thì cháu V theo chị T về nhà ông bà ngoại ở huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, thỉnh thoảng lễ tết nghỉ hè chị T mới cho con về nhà thăm bố và ông bà nội. Vợ chồng chị T, anh A không có tài sản chung, vay nợ chung.
Về điều kiện hoàn cảnh của anh A: Anh A là con đẻ của ông Trần Văn K, sinh năm 1958 và bà Trần Thị L, sinh năm 1959. Về nhân hộ khẩu, ông K và bà L hiện đang chung khẩu và có thành viên là Đỗ Thị T1. Còn anh A hiện đang chung sống cùng ông K, bà L nhưng khẩu đã tách riêng, bao gồm có anh A và cháu Trần Thiều Bảo V1, sinh năm 2012 - là con riêng của anh A với người vợ trước. Anh A dù đã tách khẩu riêng nhưng vẫn chung sống cùng nhà, trên phần nhà và đất mang tên ông K, bà L. Gia đình ông K, bà L có 3 người con, 2 người con gái đầu đi lấy chồng, đã ra ở riêng. Gia đình ông K, bà L sinh sống trong căn nhà xây diện tích khoảng 100m², gia đình thuộc diện trung bình tại địa phương. Về công ăn việc làm của anh A: Theo bà nắm được anh A làm lái xe ở Công ty TNHH T3 ở thị trấn T, thu nhập cụ thể là bao nhiêu thì bà không biết được. Về sự việc tranh chấp nuôi con xảy ra vào ngày 21/8/2024 tại nhà anh A, bà cũng chứng kiến và tham gia hoà giải cho đôi bên. Tại buổi làm việc, bà cũng đã khuyên bảo anh chị cháu V là con chung, ai cũng đều phải có trách nhiệm với con, còn ai được quyền nuôi con thì phải theo quyết định của Toà án. Trin thời gian toà án đang giải quyết thì phải tạo điều kiện cho con, không được gây mất trật tự trị an tại địa phương.
Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ tại địa phương với ông Lê Quang C, trưởng khu C, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, kết quả thể hiện: Chị Hoàng Diệu T là công dân có hộ khẩu nơi cư trú tại khu C, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Chị T là con đẻ của bà Nguyễn Thị H, nhà ở xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Bố chị T mất đã lâu. Chị T lấy chồng ở huyện H, tỉnh Tuyên Quang và cũng đã chuyển khẩu lên H được 1 thời gian. Sau đó vì vợ chồng trục trặc nên chị T và con đã về Hà Nội sinh sống làm ăn đến đầu năm 2023 thì hai mẹ con chị T chuyển về sinh sống tại khu C, xã V, huyện Đ ở ổn định từ đó đến nay. Về việc chị T làm đơn xin ly hôn chồng, chính quyền địa phương cũng không nắm rõ được mâu thuẫn vợ chồng cụ thể như thế nào, chỉ biết trong thời gian hơn 1 năm nay chị T ở địa phương thì chồng và gia đình chồng chị T không thấy xuống thăm nom con cháu. Về điều kiện hoàn cảnh của chị T, chị T hiện đang mở cửa hàng thuốc mang tên Diệu T. Cửa hàng này cũng là nơi sinh sống của 2 mẹ con chị T. Chị T sinh sống trong 01 ngôi nhà cấp 4, đầy đủ tiện nghi sinh hoạt hàng ngày xây dựng trên phần đất mang tên của chị T. Nguồn gốc thửa đất là do ông ngoại chị T, mẹ chị T tặng cho chị T, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Gia đình chị T thuộc diện khá giả tại địa phương, cửa hàng thuốc của chị T thuộc diện đông khách, có rất nhiều người đến mua thuốc và chăm sóc sức khoẻ tại đây. Về điều kiện học tập của cháu Trần Gia V, con của chị T: Vào năm 2023 khi chị T và cháu V chuyển về ở khu C, xã V, huyện Đ thì cháu V được nhập học vào lớp 2 trường tiểu học V2, ngay gần nhà của chị T. Về điều kiện hoàn cảnh, công ăn việc làm, nơi ăn chốn ở, thu nhập hàng tháng, chị T có đủ điều kiện nuôi con.
Tòa án cũng đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ, làm việc với ông Nguyễn Tiến T2 - Giáo viên chủ nhiệm lớp 3B trường tiểu học V2 ngày 27/8/2024, kết quả thể hiện: Cháu Trần Gia V, sinh ngày 05/5/2016 hiện đang học lớp 3B trường tiểu học V2, lớp do ông làm giáo viên chủ nhiệm. Cháu V đến học tại trường từ thời gian đầu kỳ 2 của lớp 2 (khoảng ra tết âm lịch năm 2023). Từ khi cháu chuyển đến học tại trường, cháu học ổn định và hiện đang học tuần ôn tập để chuẩn bị vào năm học 2024-2025. Trong quá trình học tập tại trường, chị Hoàng Diệu T mẹ cháu là người thường xuyên liên lạc với giáo viên chủ nhiệm, đóng góp các khoản tiền của cháu tại trường và là người thường xuyên đưa đón con đi học.
Tại phiên tòa, nguyên đơn chị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, chị xin được ly hôn với anh A; Về con chung, chị xin được nhận nuôi con chung là cháu Trần Gia V, sinh ngày 05/5/2016 mà không yêu cầu anh A phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, vay nợ chung, chị xác định vợ chồng không có, không yêu cầu Toà án giải quyết. Tại phiên toà, bị đơn anh A cũng giữ nguyên ý kiến của mình, anh nhất trí ly hôn với chị T; Về con chung, anh xin được nhận nuôi con chung là cháu Trần Gia V, sinh ngày 05/5/2016 mà không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung, vay nợ chung, anh xác định vợ chồng không có, không yêu cầu Toà án giải quyết Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Điều 28, 48 Bộ luật Tố tụng dân sự. Xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách của người tham gia tố tụng; tiến hành xác minh, tống đạt các văn bản cho đương sự, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định.
Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục được quy định tại chương XIV của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị HDXX áp dụng Điều 28, 35, 39, 147, 227, 235, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 55, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hoàng Diệu T:
+ Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Diệu T và anh Trần Quang A.
+ Về con chung: Xử giao con chung là cháu Trần Gia V, sinh ngày 05/5/2016 cho chị T trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Anh A không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn.
+ Về tài sản chung, vay nợ chung: Do các đương sự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
+ Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và các chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng dân sự:
Chị Hoàng Diệu T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, giao nuôi con chung sau khi ly hôn với anh Trần Quang A, do đó quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là Tranh chấp hôn nhân và gia đình “Xin ly hôn, giao nuôi con chung sau khi ly hôn” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Trần Quang A có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại thôn H M, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Tuyên Quang theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự: Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
* Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Diệu T và anh Trần Quang A kết hôn với nhau từ năm 2015, trước khi kết hôn hai bên được tự do tìm hiểu, không bị ai cưỡng ép hay lừa dối kết hôn, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, do vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Sau khi cưới anh chị về chung sống tại nhà anh A ở thôn H M, xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống chung của hai vợ chồng ban đầu hạnh phúc, nhưng sau đó đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống và trong làm ăn kinh tế. Anh A cho rằng chị T có quan hệ ngoại tình với người khác nên hạnh phúc gia đình tan vỡ. Vợ chồng anh chị ly thân nhau từ đó đến nay, không ai quan tâm gì đến ai. Chị T xác định tình cảm vợ chồng đã hết nên đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh A để giải phóng cho cả hai người đi tìm cuộc sống mới. Anh A xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị T xin ly hôn, anh nhất trí.
Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng của chị T và anh A đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh chị đều thuận tình ly hôn nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình.
* Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị T, anh A có 01 con chung tên là Trần Gia V, sinh ngày 05/5/2016. Hiện cháu đang ở cùng chị T tại khu C, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ từ khi vợ chồng anh chị ly thân. Quá trình giải quyết vụ án, chị T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung mà không yêu cầu anh A phải cấp dưỡng nuôi con. Anh A cũng đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung mà không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con. Trong biên bản lấy lời khai, cháu Trần Gia V thể hiện nguyện vọng được sống cùng với mẹ vì từ trước đến giờ cháu đều ở cùng với mẹ.
Quá trình xác minh tại địa phương đều thể hiện, cháu V ở với mẹ từ nhỏ cũng như trong quá trình vợ chồng chị T, anh A ly thân. Anh A là con đẻ của ông Trần Văn K, sinh năm 1958 và bà Trần Thị L, sinh năm 1959. Anh A khẩu đã tách riêng, bao gồm có anh A và cháu Trần Thiều Bảo V1, sinh năm 2012 - là con riêng của anh A với người vợ trước tên là Thiều Thị M1. Anh A dù đã tách khẩu riêng nhưng vẫn chung sống cùng nhà, trên phần nhà và đất mang tên ông K, bà L. Hộ gia đình hiện có ông K, bà L, anh A, cháu T1 và cháu V1 là con riêng của anh A. Gia đình anh A sinh sống trong căn nhà xây diện tích khoảng 100m2, gia đình thuộc diện trung bình tại địa phương. Anh A làm lái xe ở Công ty TNHH T3 ở thị trấn T, thu nhập cụ thể theo như anh A cung cấp tại hợp đồng lao động không xác định thời hạn số 13/HDLP ngày 01/5/2023 thì thu nhập khoảng 10.000.000đ/tháng. Tại phiên toà, anh A xuất trình 03 Bảng lương tháng 6,7,8/2024 của Công ty TNHH T3 thể hiện tổng thu nhập (chưa bao gồm các khoản phải trừ) tháng 6 của anh A là 10.000.000đ, tháng 7 là 9.673.077đ, lương tháng 8 là 10.000.000đ nhưng vì mùa mưa bão, phải nghỉ nhiều nên thực tế lương anh A nhận được tháng 6 là 6.625.000đ, tháng 8/2024 là 6.000.000đ theo đúng như Bảng chấm công anh A đã nộp cho Toà án. Điều này cũng phù hợp với xác minh thu nhập bình quân của lao động tự do tại địa phương nơi anh A sinh sống là từ 200.000đ/ngày đến 250.000đ/ngày do Toà án tiến hành tại UBND xã Y. Bên cạnh đó, anh A không có tài sản riêng, không có nhà đất riêng, anh A sinh sống trên phần nhà và đất mang tên bố mẹ đẻ của mình là ông K và bà L. Ngoài ra tại phiên toà, anh A cũng thừa nhận trước khi ly hôn với chị T, anh A có 01 người vợ trước tên là Thiều Thị M1 và có 01 con chung tên là cháu Trần Thiều Bảo V1, sinh năm 2012. Cháu V1 hiện đang ở với mẹ bên Yên Bái và theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự số 89/2014 ngày 29/9/2014 của Toà án nhân dân huyện H thì anh A phải cấp dưỡng nuôi con chung đối với cháu V1 là 1.000.000đ/tháng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi.
Còn đối với chị T hiện đang mở cửa hàng thuốc mang tên Diệu T tại khu C, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Cửa hàng này cũng là nơi sinh sống của 2 mẹ con chị T. Chị T sinh sống trong 01 ngôi nhà cấp 4, đầy đủ tiện nghi sinh hoạt hàng ngày xây dựng trên phần đất mang tên của chị T. Nguồn gốc thửa đất là do ông ngoại, mẹ chị T tặng cho chị T, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Gia đình chị T thuộc diện khá giả tại địa phương, cửa hàng thuốc của chị T thuộc diện đông khách, có rất nhiều người đến mua thuốc và chăm sóc sức khoẻ tại đây. Thu nhập hàng tháng của chị T theo như chị T trình bày tại phiên toà là vào khoảng 45.000.000đ/tháng. Xác minh thu nhập bình quân đầu người của lao động tự do trên địa bàn chị T sinh sống do UBND xã V, huyện Đ cung cấp là 45.000.000đ/người/năm. Gia đình chị T ở gần nhà chị T, thường xuyên giúp đỡ chị T về mặt kinh tế cũng như về việc chăm sóc cháu V. Về điều kiện hoàn cảnh, công ăn việc làm, nơi ăn chốn ở, thu nhập hàng tháng, chị T có đủ điều kiện nuôi con.
Hiện cháu V đang chuẩn bị vào năm học mới 2024-2025 tại trường tiểu học V2, ngay gần nhà chị T ở. Xác minh tại trường tiểu học V2 thể hiện, trong quá trình học tập của cháu V tại trường, chị T là người thường xuyên liên lạc với giáo viên chủ nhiệm, đóng góp các khoản tiền của cháu và là người thường xuyên đưa đón con đi học.
Để đảm bảo điều kiện học hành, tránh sự xáo trộn, sự phù hợp về phát triển tâm sinh lý và theo nguyện vọng của con, Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao cháu V cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh A không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn. Việc giải quyết này là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.
* Về tài sản chung, vay nợ chung: Do các đương sự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí và quyền kháng cáo bản án: Các đương sự phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 235, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 55, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
Tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Diệu T.
1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Diệu T và anh Trần Quang A.
Giấy chứng nhận kết hôn số 25 do Ủy ban nhân dân xã Y, huyện H, tỉnh Tuyên Quang cấp ngày 28/5/2015 cho chị Hoàng Diệu T và anh Trần Quang A không còn giá trị pháp lý sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Xử giao con chung là cháu Trần Gia V, sinh ngày 05/5/2016 cho chị Hoàng Diệu T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Trần Quang A không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn.
3. Về án phí: Nguyên đơn chị Hoàng Diệu T phải chịu 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002798 ngày 12/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Tuyên Quang (nộp theo hình thức trực tuyến trên Cổng dịch vụ công quốc gia ngày 08/8/2024), hoàn trả lại cho chị T số tiền chênh lệch là 225.000đ (Hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng). Bị đơn anh Trần Quang A phải chịu 75.000đ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án số 270/2024/HNGĐ-ST ngày 19/09/2024 về tranh chấp hôn nhân gia đình, xin ly hôn và nuôi con khi ly hôn
| Số hiệu: | 270/2024/HNGĐ-ST |
| Cấp xét xử: | Sơ thẩm |
| Cơ quan ban hành: | Tòa án nhân dân Huyện Hàm Yên - Tuyên Quang |
| Lĩnh vực: | Hôn Nhân Gia Đình |
| Ngày ban hành: | 19/09/2024 |
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về