Bản án 94/2021/HNGĐ-ST ngày 13/04/2021 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

 BẢN ÁN 94/2021/HNGĐ-ST NGÀY 13/04/2021 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON CHUNG

Ngày 13 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 163/2021/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc G, sinh năm 1987 (xin vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Lê Thanh S, sinh năm 1979 (xin vắng mặt). Cùng địa chỉ: Khóm 9, thị t, huyện T, tỉnh Cà Mau .

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 12/3/2021 và đơn xin vắng mặt ngày 07/4/2021, nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc G trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Lê Thanh S chung sống với nhau từ năm 2016, hôn nhân tự nguyện. Có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Trần Văn Thời, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau (theo giấy chứng nhận kết hôn số 39 ngày 29/4/2016). Nguyên nhân dẫn đến ly hôn là trong thời gian chung sống lúc đầu sống rất hạnh phúc, thời gian về sau vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cải nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chị và anh S đã ly thân gần 03 năm nay. Xét thấy hôn nhân không hạnh phúc, chị xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Nay chị yêu cầu được ly hôn với anh S.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị và anh S có 01 người con chung tên Lê Trọng N, sinh ngày 10/02/2017. Hiện nay con đang sống với anh S. Khi ly hôn chị yêu cầu giao cháu N cho anh S được trực tiếp nuôi. Không đặc ra việc cấp dưỡng.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị G xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại đơn xin vắng mặt ngày 03/4/2021, bị đơn anh Lê Thanh S trình bày: Anh thống nhất như trình bày của chị G cụ thể: Về hôn nhân: Anh và chị G sống chung với nhau từ năm 2016, có đăng ký kết hôn theo quy định, do điều kiện đi làm ăn nên anh không có thời gian đến Tòa án. Anh đồng ý ly hôn với chị G do hiện nay anh và chị G không thể hàn gắn lại được. Về con chung: Anh và chị G có 01 người con chung tên Lê Trọng N, sinh ngày 10/02/2017 đúng như chị G trình bày anh đồng ý trực tiếp nuôi cháu N, do từ trước đến nay cháu N sống với anh. Anh không đặc ra việc cấp dưỡng. Về tài sản chung và nợ: Anh thống nhất như trình bày của chị G, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn anh Lê Thanh S có nơi cư trú tại khóm 9, thị trấn Trần Văn Thời, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Chị Nguyễn Ngọc G khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với anh Lê Thanh S, tranh chấp về nuôi con chung. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Ly hôn, tranh chấp nuôi con" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Chị G là người khởi kiện nên xác định tư cách đương sự chị G là nguyên đơn, anh S là bị đơn được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Chị G và anh S có đơn xin vắng mặt. Căn cứ theo khoản 1 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc G và anh Lê Thanh S không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, chị G và anh S đã vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị và anh S đã ly thân hơn 03 năm nay. Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị G, cho chị G được ly hôn với anh S.

[3] Về con chung: Chị G và anh S có 01 người con chung tên Lê Trọng N, sinh ngày 10/02/2017. Khi ly hôn chị yêu cầu giao cháu N cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng.

Xét, con chung tên Lê Trọng N. Hiện nay đang sống chung với anh S. Từ khi chị và anh S sống ly thân đến nay cháu N sống cùng với anh S, gần gũi với anh S, ổn định về thời gian, phát triển tốt về mọi mặt.

Tại đơn xin xét xử vắng mặt, anh S đồng ý nuôi dưỡng cháu N. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình; Tiếp tục giao cháu Lê Trọng N, sinh ngày10/02/2017 cho anh S trực tiếp nuôi dưỡng. Chị G không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.

[4] Về cấp dưỡng: Chị G và anh S không đặc ra nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung và nợ: Chị G và anh S xác định tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc chị G phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số:326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc G về việc ly hôn với anh Lê Thanh S.

-Về con chung: Tiếp tục giao cháu Lê Trọng N, sinh ngày 10/02/2017 cho anh Lê Thanh S được trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Ngọc G không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.

2. Về án phí: Chị Nguyễn Ngọc G phải nộp số tiền 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình; ngày 16/3/2021 chị G đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0004751 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, nay được chuyển thu án phí.

3. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

170
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

 Bản án 94/2021/HNGĐ-ST ngày 13/04/2021 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

Số hiệu:94/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Trần Văn Thời - Cà Mau
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 13/04/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;