Bản án 94/2020/HS-ST ngày 29/07/2020 về tội cướp giật tài sản

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 94/2020/HS-ST NGÀY 29/07/2020 VỀ TỘI CƯỚP GIẬT TÀI SẢN

Ngày 29 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2020/TLST-HS ngày 07 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 107/2020/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 7 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Đỗ Nguyên K, sinh năm 1987, tại Quảng Nam; Thường trú: Đường X, phường Y, quận Z, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Kim C và bà Nguyễn Thị Thu M; hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ con; tiền án: Không, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2004, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội Cướp giật tài sản, Ngày 09/8/2010, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 năm tù về tội Giết người, chấp hành xong hình phạt ngày 11/8/2016; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/02/2020. (có mặt)

2. Ngô Nguyễn Nguyên B, sinh năm 1995, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: Đường X1, phường Y1, quận Z1, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ngô Tấn S và bà Nguyễn Thị Thu T; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; tiền án: năm 2012, bị Tòa án nhân dân Quận 11 xử phạt 02 năm tù về tội Cướp giật tài sản, tổng hợp với hình phạt 02 năm tù treo theo Bản án của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 04 năm, chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/02/2015, Ngày 14/3/2017, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt 04 năm tù về tội Cướp giật tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/8/2019; tiền sự: Ngày 31/12/2019 bị Ủy ban nhân dân Phường 7, quận Tân Bình áp dụng biện pháp gió dục tại phường thời hạn là 03 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; Nhân thân: Năm 2011, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội Cướp giật tài sản; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/02/2020. (có mặt) - Người bị hại: Anh Trần Công B1, sinh năm: 1988; thường trú: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Vĩnh Long; trú tại: Đường X2, phường Y2, quận Z2, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Trương Thanh H, sinh năm: 1978; thường trú: Đường X3, phường Y3, quận Z3, Thành phố Hồ Chí Minh; trú tại: Đường X4, phường Y4, quận Z4, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

2/ Bà Nguyễn Thị Thu M, sinh năm: 1960; Trú tại: Đường X5, phường Y5, quận Z5, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Nguyên K và Ngô Nguyễn Nguyên B là bạn bè quen biết nhau từ trước. Ngày 12/02/2020 do không có tiền tiêu xài nên K đã thay đổi biển số xe 52H7- 4284 vào xe gắn máy Suzuki Raider biển số 63B3-47034 để đi cướp giật tài sản.

Sau đó K chạy xe gắn máy đến nhà và chở B đi uống café. Khoảng 18 giờ 00 ngày 12/02/2020 trên đường về K rủ B đi cướp giật tài sản, B đồng ý. K chở B ngồi sau chạy qua nhiều đường tìm tài sản sơ hở để cướp giật. Khoảng 18 giờ 25 phút cùng ngày, khi đang lưu thông trên đường Thoại Ngọc Hầu (hướng từ đường Thạch Lam về đường Lũy Bán Bích) thì K và B nhìn thấy bên ngược chiều đường có anh Trần Công B1 điều khiển xe gắn máy biển số 64G1-28832 chở chị Bùi Thị Ngọc Mai ngồi sau dừng xe sát lề đường trước nhà số 136 Thoại Ngọc Hầu, phường Phú Thạnh, quận Tân Phú, anh B1 đang sử dụng điện thoại di động Iphone 7 màu đen nên K kêu B giật, B đồng ý. K điều khiển xe chạy quay lại từ phía sau cho cùng chiều đường với anh B1, lúc này K chở B chạy lên áp sát phía bên trái anh B1, B ngồi sau dùng tay phải giật được chiếc điện thoại di động anh B1 đang sử dụng trên tay rồi K tăng ga bỏ chạy. Anh B1 tri hô và dùng xe máy đuổi theo đến trước số 210 Thoại Ngọc Hầu thì tông xe máy vào đuôi xe máy của K làm cả hai xe bị té ngã. K bị người dân bắt giữ, còn B cầm điện thoại vừa giật được trên tay phải tiếp tục chạy bộ. B chạy bộ được một đoạn thì ném lại điện thoại vừa giật được và tiếp tục bỏ chạy vào hẻm 212 Thoại Ngọc Hầu thì bị người dân bắt giữ. Sau đó K và B được đưa về trụ sở Công an phường Phú Thạnh để làm việc.

Tại Cơ quan điều tra Công an quận Tân Phú, Đỗ Nguyên K và Ngô Nguyễn Nguyên B thừa nhận toàn bộ hành vi cướp giật tài sản như trên.

Theo kết luận định giá số 465 ngày 23/3/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân quận Tân Phú, tại thời điểm bị chiếm đoạt điện thoại di động Iphone 7 màu đen của anh B1 trị giá là 2.850.000 đồng.

Vật chứng:

- 01 điện thoại di động Iphone 7 màu đen 32GB, số IMEI: 359150071828974, đã trả lại cho bị hại là anh Trần Công B1.

- 01 xe gắn máy xe gắn máy Suzuki Raider biển số 52H7-4284, số khung 41J0E0102488, số máy G427102658 là phương tiện K chở B đi cướp giật tài sản.

Theo kết luận giám định số 378 ngày 10/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Tp.HCM xác định biển số 52H7-4284 là biển số thật. Qua xác minh xe gắn máy hiệu Kawasaki biển số 52H7-4284 do chị Trương Thanh H đứng tên sở hữu, chị H cho biết xe bị mất trộm vào tháng 01/2020 do xe đã cũ và giá trị thấp nên chị H không đến cơ quan công an trình báo.

Kết luận giám định số 592 ngày 21/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Tp.HCM xe gắn máy Suzuki Raider số khung 41J0E0102488, số máy G427102658 không thay đổi.

Qua xác minh xe gắn máy xe gắn máy Suzuki Raider, số khung 41J0E0102488, số máy G427102658 có biển số 63B3-47034 do Nguyễn Thanh P (HKTT: ấp A1, xã B1, huyện C1, tỉnh Tiền Giang) đứng tên sở hữu, hiện anh P đi đâu không rõ. Quá trình điều tra K khai nhận đã dùng xe gắn máy Honda Sonic biển số 59P2-59676 do mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Thu M đứng tên sở hữu để bán cho Nguyễn Thanh P với số tiền 50.000.000 đồng, sau đó K dùng 25.000.000 đồng mua lại xe gắn máy Suzuki Raider biển số 63B3-47034 của anh Phương, việc mua bán xe bà M biết và đồng ý. Ngày 12/02/2020 K tự ý thay đổi biển số xe 52H7-4284 để đi cướp giật tài sản bà M không biết.

Tại Bản cáo trạng số: 92/CT-VKSQTP ngày 06/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Đỗ Nguyên K về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Ngô Nguyễn Nguyên B về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d, i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội và đề nghị: Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; điểm d, i khoản 2 Điều 171, Điều 17 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Đỗ Nguyên K từ 04 năm đến 05 năm tù.

Xử phạt bị cáo Ngô Nguyễn Nguyên B từ 05 năm đến 06 năm tù. Về phần vật chứng vụ án đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo Đỗ Nguyên K và Ngô Nguyễn Nguyên B thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đánh giá hành vi, quyết định tố tụng:

Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng. Các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Đánh giá hành vi của các bị cáo:

Lời nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người làm chứng, cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó đủ cơ sở để xác định: Khoảng 18 giờ 25 phút ngày 12/02/2020 trước nhà số 136 Thoại Ngọc Hầu, phường Phú Thạnh, quận Tân Phú Đỗ Nguyên K và Ngô Nguyễn Nguyên B có hành vi cướp giật điện thoại di động Iphone 7 của anh Trần Công B1 trị giá 2.850.000 đồng thì bị bắt quả tang. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú truy tố các bị cáo theo Điều 171 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Các bị cáo sử dụng xe gắn máy làm phương tiện đi cướp giật tài sản là thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Ngô Nguyễn Nguyên B thực hiện hành vi phạm tội khi trước đó đã bị kết án về hành vi cướp giật tài sản, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục phạm tội lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, hành vi của bị cáo Ngô Nguyễn Nguyên B thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật hình sự. Tình tiết tái phạm nguy hiểm đã là tình tiết định khung hình phạt nên không được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự khi lượng hình.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật nghiêm cấm; xâm phạm tới quyền sở hữu tài sản của người khác, được pháp luật bảo vệ, đồng thời ảnh hưởng đến trật tự, trị an, an toàn xã hội. Bản thân các bị cáo là người đã thành niên, đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Các bị cáo nhận thức được hành vi cướp giật tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi, muốn có tiền tiêu xài một cách dễ dàng nhưng không muốn bỏ công sức lao động nên các bị cáo đã cố ý phạm tội, chứng tỏ ý thức xem thường pháp luật của các bị cáo. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo để giáo dục các bị cáo nói riêng và để đảm bảo việc đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung cho toàn xã hội.

Hành vi phạm tội của các bị cáo mang tính chất đồng phạm giản đơn. Khi bị cáo K rủ đi cướp giật tài sản thì bị cáo B đồng ý ngay và bị cáo K chở bị cáo B chạy qua nhiều tuyến đường tìm tài sản sơ hở để cướp giật. Đối với bị cáo K là người thay đổi biển số xe để chuẩn bị đi cướp giật tài sản, cũng là người rủ rê bị cáo B đi cướp giật tài sản, còn đối với bị cáo B là người trực tiếp thực hiện hành vi cướp giật điện thoại. Ngoài ra ngày 31/12/2019, bị cáo B bị Ủy ban nhân dân Phường 7, quận Tân Bình áp dụng biện pháp giáo dục tại Phường thời hạn là 3 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Cả hai bị cáo đều có nhân thân xấu nên khi lượng hình cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc thì mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. Do đó miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Do người bị hại anh Trần Công B1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại di động Iphone 7 màu đen 32GB, số IMEI: 359150071828974. Đây là tài sản bị cướp giật, đã trả lại cho người bị hại. Do đó, Hội đồng xét xử không xét.

- 01 xe gắn máy xe gắn máy Suzuki Raider biển số 52H7-4284, số khung 41J0E0102488, số máy G427102658 là phương tiện K chở B đi cướp giật tài sản theo, Kết luận giám định số 378 ngày 10/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Tp.HCM xác định biển số 52H7-4284 là biển số thật. Qua xác minh xe gắn máy hiệu Kawasaki biển số 52H7-4284 do chị Trương Thanh H đứng tên sở hữu. Đây là tài sản của bà Trương Thanh H, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần trả lại biển số xe trên cho bà Trương Thanh H.

Kết luận giám định số 592 ngày 21/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Tp.HCM xe gắn máy Suzuki Raider số khung 41J0E0102488, số máy G427102658 không thay đổi.

Qua xác minh xe gắn máy xe gắn máy Suzuki Raider, số khung 41J0E0102488, số máy G427102658 có biển số 63B3-47034 do Nguyễn Thanh P (HKTT: ấp A1, xã B1, huyện C1, tỉnh Tiền Giang) đứng tên sở hữu, hiện anh P đi đâu không rõ. Quá trình điều tra K khai nhận đã dùng xe gắn máy Honda Sonic biển số 59P2-59676 do mẹ ruột là bà Nguyễn Thị Thu M đứng tên sở hữu để bán cho Nguyễn Thanh P với số tiền 50.000.000 đồng, sau đó K dùng 25.000.000 đồng mua lại xe gắn máy Suzuki Raider biển số 63B3-47034 của anh P, việc mua bán xe bà M biết và đồng ý. Ngày 12/02/2020 K tự ý thay đổi biển số xe 52H7-4284 để đi cướp giật tài sản bà M không biết. Hội đồng xét xử xét thấy chiếc xe trên chưa xác định được chủ sở hữu, bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội. Do đó, cần thông báo trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng. Nếu hết thời hạn 06 tháng mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đến nhận thì tịch thu chiếc xe trên nộp ngân sách Nhà nước.

[7] Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ Điều 171 Bộ luật hình sự;

Tuyên bố bị cáo Đỗ Nguyên K và Ngô Nguyễn Nguyên B phạm tội “Cướp giật tài sản”.

[2] Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Đỗ Nguyên K 04 (bốn) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 12/02/2020.

[3] Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17 của Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Ngô Nguyễn Nguyên B 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/02/2020.

[4] Về hình phạt bổ sung:

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong

[6] Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Trả lại cho bà Trương Thanh H: 01 (một) biển số xe: 52H7-4284.

- Thông báo trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng đối với: 01 (một) xe gắn máy hai bánh hiệu Suziki Raider màu đỏ đen, số khung: 41J0E0102488, số máy: G427102658. Nếu hết thời hạn 06 tháng mà không có chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đến nhận thì tịch thu chiếc xe trên nộp ngân sách Nhà nước.

(Theo Phiếu nhập kho vật chứng số: 37/PNK ngày 17/02/2020 của Công an quận Tân Phú).

[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 13/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

[8] Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

244
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án 94/2020/HS-ST ngày 29/07/2020 về tội cướp giật tài sản

Số hiệu:94/2020/HS-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Tân Phú - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 29/07/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;