Bản án 90/2020/HSST ngày 08/06/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BẢN ÁN 90/2020/HSST NGÀY 08/06/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Trong ngày 08 tháng 6 năm 2020, tại Tòa án nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 88/2020/HSST ngày 04 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2020/QĐXX-HS ngày 21 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:

Vương Quốc C sinh năm 1964 tại TP.Hồ Chí Minh; Tên gọi khác: không; Nơi đăng ký thường trú: xxxx phường y, quận z, TP.Hồ Chí Minh; Tạm trú: xxxx tổ x1 ấp x2, xã y, huyện z, TPHCM; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 5/12; Dân tộc: Hoa; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Vương M (chết) và Bà Tường An T; Anh chị em ruột: 05 người, bị cáo là con thứ hai; Vợ: Ngô Mỹ L sinh năm 1961. Con: 02 người: Vương Vĩnh T, sinh năm 1990 và Vương Lệ D, sinh năm 1994; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 31/01/2020 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08h30 ngày 31/01/2020, Vương Quốc C đến Cơ sở xã hội NX thuộc ấp x, xã y, huyện H, TPHCM thăm con trai là Vương Vĩnh T đang cai nghiện tại đây. Tại khu vực thăm gặp của cơ sở, lực lượng bảo vệ của cơ sở kiểm tra và phát hiện trong bóp da màu đen của Cường có 01 gói nylon bên trong có 06 gói nhỏ chứa tinh thể không màu nên báo công an xã y, huyện H, TPHCM lập biên bản phạm tội quả tang. Quá trình điều tra C khai nhận: bản thân nghiện ma túy nên thường mua ma túy của một người thanh niên không rõ lai lịch ở khu vực quận L, TPHCM về sử dụng thỏa mãn cơn nghiện.

Tại bản Kết luận giám định số 254/KLGĐ-H ngày 06/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hồ Chí Minh kết luận: tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,3296 gram, loại Methaphetamine .

Đối với người thanh niên bán ma túy cho C không rõ lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Vật chứng thu giữ của Cường gồm:

- 01 gói niêm phong mang số vụ 254, khối lượng 1,3296gram;

- 03 ĐTDĐ (samsung màu vàng; 01 FPT màu vàng đen; 01 Nokia màu đen);

- 01 bóp da màu đen; 01 Giấy phép lái xe; 01 giấy Bảo hiểm xe máy; 06 thể Bảo hiểm y tế; 01 thẻ nhựa FECREDID tất cả mang tên Vương Quốc C; 01 tờ vé số Bến Tre ngày 21/01/2020 số 212305;

- Số tiền 3.900.000đồng tiền Việt Nam; 01bao lì xì màu đỏ bên trong có 100.000 đồng tiền Việt Nam; 01 tờ 100 USD Mỹ số JL5279216A.

Tại Bản cáo trạng số: 86/CT-VKS – HS ngày 04 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Vương Quốc C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H giữ quyền công tố tại phiên tòa xác định: Căn cứ vào lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai tại phiên tòa hôm nay của bị cáo cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Vương Quốc C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu tháng) đến 02 (hai) năm 06 (sáu tháng) và xử lý vật chứng theo quy định.

Các ý kiến sẽ được Hội đồng xét xử xem xét khi thảo luận, nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo Vương Quốc C khai nhận bị cáo là nghiện ma túy. Bị cáo thường liên lạc mua ma túy người thanh niên không rõ lai lịch tại khu vực quận L, TPHCM về cất giấu sử dụng dần. Bị cáo sử dụng ma túy khoảng 06 tháng đến khi bị bắt. Vào khoảng 08giờ 30 ngày 31/01/2020, tại khu vực thăm gặp của Cơ sở xã hội NX thuộc ấp x, xã y, huyện H, TPHCM, bị cáo bị lực lượng bảo vệ của cơ sở kiểm tra và phát hiện, thu giữ ma túy và vật chứng như Cáo trạng đã truy tố. Tại bản Kết luận giám định số 254/KLGĐ-H ngày 06/02/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hồ Chí Minh kết luận: tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,3296gram, loại Methaphetamine. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai và thừa nhận số ma túy này do bị cáo mua với mục đích sử dụng. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Do đó, bản Cáo trạng số: 86/CT-VKS - HS ngày 04 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Vương Quốc C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” có khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo C thuộc tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ và đúng pháp luật.

[2] Bị cáo Vương Quốc C là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết việc hành vi tàng trữ ma túy là trái pháp luật nhưng vì để thỏa mãn cơn nghiện của bản thân bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thuộc trường hợp nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền về ma túy của Nhà nước như cấm mọi hành vi mua bán, tang trữ, vận chuyển… nhưng bị cáo vẫn quyết tâm thực hiện tội phạm và phạm tội một cách cố ý trực tiếp, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an xã hội. Mặt khác, nơi phát hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo lại là cơ sở cai nghiện ma túy, nơi mà con trai ruột bị cáo đang chấp hành việc cai nghiện bắt buộc theo quyết định của Tòa án. Điều này chứng tỏ bị cáo hết sức xem thường pháp luật nên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cần có hình phạt thật nghiêm khắc để thể hiện tình răn đe đối với bản thân bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét về nhân thân, những tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[3] Về nhân thân: Bị cáo C có nhân thân tốt. Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây được xác định là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s khoản 1 điều 51 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

[4] Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H đề nghị Hội đồng xét xử phạt tù bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tại phiên tòa bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) gói nylon có 06 gói nylon nhỏ chứa tinh thể không màu có tổng khối lượng 1,3296 gram qua giám giám định là Methamphetamine và 01 vỏ bao lì xì màu đỏ không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy theo điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự;

- Đối với 03 ĐTDĐ đã qua sử dụng (samsung màu vàng; 01 FPT màu vàng đen; 01 Nokia màu đen); 01 bóp da màu đen; 01 giấy Bảo hiểm xe máy; 01 Giấy phép lái xe, 06 thể Bảo hiểm y tế, 01 thẻ nhựa FECREDID tất cả mang tên Vương Quốc C; 01 tờ vé số đài Bến Tre ngày 21/01/2020 số 212305 thu giữ của bị cáo được xác định là tư vật của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo;

- Đối với số tiền 3.900.000 đồng tiền Việt Nam, 100.000 đồng tiền Việt Nam bên trong bao lì xì màu đỏ (tổng cộng là 4.000.000 đồng) và 01 tờ 100 USD Mỹ số JL5279216A thu giữ của bị cáo được xác định là tiền riêng của bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo nhưng giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện H tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

[6] Về hình phạt bổ sung:

Hội đồng xét xử quyết định áp dụng khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự, phạt tiền bị cáo 5.000.000 (năm triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước.

[7] Về Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí HSST là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1, 5 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ vào Điều 106 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;) - Tuyên bố: bị cáo Vương Quốc C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: bị cáo Vương Quốc C 02 (hai )năm tù, thời hạn tù được tính từ ngày 31/01/2020.

- Về xử lý vật chứng:

+ Tịch thu tiêu hủy 01 (một) gói nylon bên trong có 06 gói nylon nhỏ chứa tinh thể không màu có tổng khối lượng là 1,3296 gram và 01 bao lì xì màu đỏ;

+ Trả lại cho bị cáo 03 ĐTDĐ đã qua sử dụng (Samsung màu vàng; 01 FPT màu vàng đen; 01 Nokia màu đen); 01 bóp da màu đen; 01 giấy Bảo hiểm xe máy;

01 Giấy phép lái xe, 06 thể Bảo hiểm y tế, 01 thẻ nhựa FECREDID tất cả mang tên Vương Quốc C và 01 tờ vé số đài Bến Tre ngày 21/01/2020 số 212305; + Trả lại cho bị cáo 4.000.000 đồng và 100 USD Mỹ số JL5279216A nhưng giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, TP. HCM tạm giữ để bảo đảm thi hành án.

Vật chứng của vụ án do Chi cục Thi hành án dân sự huyện H quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/5/2020 của Công an huyện H. Riêng số tiền 4.000.000 (bốn triệu) đồng được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H gửi theo Giấy nộp tiền ngày 23/4/2020 tại Ngân hàng Nông nghiện và phát triển nông thôn - Chi nhánh Hóc Môn.

- Phạt bị cáo Vương Quốc C số tiền 5.000.000 (năm triệu) đồng để sung quỹ Nhà nước. Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

- Về án phí Hình sự sơ thẩm: Bị cáo Vương Quốc C phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng, thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật nếu bị cáo chưa thi hành các khoản nêu trên thì hàng tháng bị cáo còn phải trả thêm tiền lãi theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước quy định trên số tiền chưa thi hành tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 06, 07 và 09 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

181
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án 90/2020/HSST ngày 08/06/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:90/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hóc Môn - Hồ Chí Minh
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 08/06/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;