Bản án 89/2020/HSST ngày 06/08/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT, TỈNH BÌNH THUẬN

BẢN ÁN 89/2020/HSST NGÀY 06/08/2020 VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 06 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 103/2020/TLST-HS ngày 10 tháng 7 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 129/2020/QĐXXST- HS ngày 23 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Ngọc A (tên gọi khác: AA) Sinh năm: 1985 tại BT.

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Khu phố B, phường C, thành phố PT, tỉnh BT Dân tộc: Kinh Quốc tịch: Việt Nam Tôn giáo: Không Trình độ học vấn: 12/12 Nghề nghiệp: Lái xe Cha: ông Phan Văn D, sinh năm 1955, nghề nghiệp: Không Mẹ bà Trương Thị E, sinh năm 1956, nghề nghiệp: Nội trợ Vợ Thoại Thị Tuyết F, sinh năm 1987 Con có hai con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2013.

Cùng trú tại: Khu phố B, phường C, thành phố PT, tỉnh BT Anh chị em ruột có 04 người, bị cáo là con thứ tư trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không Nhân thân: Không Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ 40 phút ngày 19/10/2019, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Phan Ngọc A sử dụng điện thoại của A có số thuê bao 0944.816.XXX gọi điện cho G (chưa xác định được số thuê bao, họ, tên, địa chỉ) để mua ma túy. G hẹn gặp A tại cầu H để lấy ma túy. Sau đó, A điều khiển xe mô tô biển số 86H9- XXXX chạy từ nhà A (thuộc khu phố I, phường C, thành phố PT) đến khu vực cầu H (cách khoảng 200m về phía xã J, huyện K, tỉnh BT). Tại đây, A gặp G, G đưa cho A 03 gói ma túy và A đưa cho G 3.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, A để 02 gói ma túy trong hộc xe phía trước bên trái và 01 gói để trong hộc xe phía trước bên phải, sau đó điều khiển xe mô tô về hướng thành phố PT để đi về nhà. Khi đi đến khu vực đường L (thuộc khu phố M, phường N, thành phố PT) thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp với Công an phường N, yêu cầu A dừng xe kiểm tra hành chính, quá trình kiểm tra phát hiện A đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trong hộc xe phía trước xe của A. Sau đó, lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với A và thu giữ vật chứng có liên quan gồm:

- 03 gói nylon không màu có nhựa kéo một đầu đều có kích thước (2,5 x 2,5)cm, bên trong có chứa tinh thể màu trắng (A khai đây là hàng khay tức là Ketamine, A mua về để sử dụng, được thu giữ trong hộc xe phía trước của A).

- 01 điện thoại di động, loại bàn phím số, màu đen, mặt trước và sau có chữ Nokia.

- Tiền Việt Nam: 1.000.000 đồng.

- 01 xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại xe Nouvo, màu đen, có số khung RLCN2B52XXXX19967, số máy: 2B52 - XXXX67, xe không gắn biển số kiểm soát.

- 01 biển số xe 86H9 - XXXX, được thu giữ trong cốp xe của A.

Tại Kết luận giám định số 1122/KL GĐ - PC09 ngày 18/12/2019 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh BT kết luận:

- Mẫu M gửi giám định có khối lượng 1,4953 gam Ketamine.

- Hoàn lại mẫu vật gửi đến giám định: 03 gói nylon đã cắt lấy mẫu và 0,6470 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1122, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung P và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh BT. (BL:17-18, 19-20, từ 58 đến 61) Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Nouvo, màu đen, có số khung RLCN2B52XXXX19967, số máy: 2B52 - XXXX67 và biển số kiểm soát 86H9 - XXXX thu giữ của Phan Ngọc A. Qua điều tra xác định, chiếc mô tô nêu trên do anh Phan Ngọc O (sinh năm 1983, trú tại khu phố I, phường C, thành phố PT, là anh trai của A) đứng tên chủ sở hữu. Việc A sử dụng xe mô tô mua ma túy về sử dụng anh O không biết nên Cơ quan điều tra trả lại chiếc xe mô tô nêu trên cho anh O. Anh O đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì về dân sự. (BL:53).

Đối với số tiền Việt Nam 1.000.000 đồng của Phan Ngọc A. Xét thấy, số tiền nêu trên không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho A. (BL:55).

Các vật chứng còn lại: 03 gói nylon đã cắt lấy mẫu và 0,6470 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1122, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung P và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh BT; 01 điện thoại di động, loại bàn phím số, màu đen, mặt trước và sau có chữ Nokia gắn kèm sim có số thuê bao 0944.816.XXX là phương tiện A sử dụng gọi điện cho G mua ma túy. Viện kiểm sát nhân dân thành phố PT đã ra Quyết định chuyển vật chứng nêu trên đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố PT bảo quản chờ xử lý.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố PT vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố theo Cáo trạng số 103/CT/VKSPT-HS ngày 08/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố PT.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: bị cáo Phan Ngọc A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, đề nghị xử phạt bị cáo Phan Ngọc A từ 12 đến 18 tháng tù.

Biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tuyên:

* Tịch thu, tiêu hủy:

03 gói nylon đã cắt lấy mẫu và 0,6470 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1122, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung P và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh BT.

01 điện thoại di động, loại bàn phím số, màu đen, mặt trước và sau có chữ Nokia, gắn kèm sim có số thuê bao: 0944.816.XXX Viện kiểm sát nhân dân thành phố PT đã ra Quyết định chuyển vật chứng nêu trên đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố PT bảo quản chờ xử lý.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố PT, Viện kiểm sát nhân dân thành phố PT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố:

Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng và đầy đủ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2]. Về căn cứ buộc tội bị cáo: tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu, bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố là đúng, không oan. Lời khai nhận này của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án.

Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 23 giờ 40 phút ngày 19/10/2019, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Phan Ngọc A sử dụng điện thoại của A có số thuê bao 0944.816.XXX gọi điện cho G (chưa xác định được số thuê bao, họ, tên, địa chỉ) để mua ma túy. G hẹn gặp A tại cầu H để lấy ma túy. Sau đó, A điều khiển xe mô tô biển số 86H9 - XXXX chạy từ nhà A (thuộc khu phố I, phường C, thành phố PT) đến khu vực cầu H (cách khoảng 200m về phía xã J, huyện K, tỉnh BT). Tại đây, A gặp G, G đưa cho A 03 gói ma túy và A đưa cho G 3.000.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, A để 02 gói ma túy trong hộc xe phía trước bên trái và 01 gói để trong hộc xe phía trước bên phải, sau đó điều khiển xe mô tô về hướng thành phố PT để đi về nhà. Khi đi đến khu vực đường L (thuộc khu phố M, phường N, thành phố PT) thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phối hợp với Công an phường N, yêu cầu A dừng xe kiểm tra hành chính, quá trình kiểm tra phát hiện A đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trong hộc xe phía trước xe của A. Sau đó, lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với A.

Vì vậy Cáo trạng số 103/CT/VKSPT-HS ngày 08/7/2020 của Viện kiểm sát nhân dân tp. PT truy tố bị cáo Phan Ngọc A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

[3]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Phan Ngọc A là công dân có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được Ketamine là chất gây nghiện nằm trong danh mục Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, sử dụng trái phép, vì hậu quả nguy hại của nó đối với sức khỏe con người trong cộng đồng và trật tự trị an xã hội. Tuy nhận thức được điều này nhưng bị cáo là con nghiện, khi đến cơn bị cáo có nhu cầu sử dụng để thỏa mãn cơn nghiện nên bị cáo bất chấp sự trừng trị của pháp luật, bất chấp hậu quả mà ma túy mang lại vẫn cố ý thực hiện hành vi tàng trữ trái phép. Hành vi của bị cáo Phan Ngọc A là cố ý, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh, trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần thiết phải xử lý nghiêm khắc đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

[4]. Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhân thân tốt.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: khi quyết định hình phạt sẽ xem xét cho bị cáo, tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Trên cơ sở cân nhắc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo xét thấy: Hành vi của bị cáo gây nguy hại cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương nên cần xử lý bằng một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của của bị cáo, mức hình phạt này không chỉ nhằm trừng trị bị cáo mà còn giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới. Ngoài ra mức hình phạt đối với bị cáo còn nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm chung.

Đối với đối tượng tên G, do không đủ thông tin về nhân thân nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố PT không có cơ sở để xử lý là phù hợp với quy định của pháp luật.

[5]. Về ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố PT:

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố PT về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là tương xứng với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng của vụ án:

Tịch thu tiêu hủy: 03 gói nylon đã cắt lấy mẫu và 0,6470 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1122, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung P và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh BT.

01 điện thoại di động, loại bàn phím số, màu đen, mặt trước và sau có chữ Nokia, gắn kèm sim có số thuê bao: 0944.816.XXX.

(Tất cả tang vật chứng đều như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 96, ngày 08/7/2020 giữa Công an thành phố PT và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố PT).

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

[1] Tuyên bố: bị cáo Phan Ngọc A phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm g khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: bị cáo Phan Ngọc A 15 (Mười lăm) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

[2] Biện pháp tư pháp: Căn cứ các điểm a khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy:

* Tịch thu tiêu hủy:

03 gói nylon đã cắt lấy mẫu và 0,6470 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1122, có chữ ký của giám định viên Đinh Trung P và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh BT.

01 điện thoại di động, loại bàn phím số, màu đen, mặt trước và sau có chữ Nokia, gắn kèm sim có số thuê bao: 0944.816.XXX.

(Tất cả tang vật chứng đều như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 96, ngày: 08/7/2020 giữa Công an thành phố PT và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố PT).

[3] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phan Ngọc A phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo:

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (06/8/2020).

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

168
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án 89/2020/HSST ngày 06/08/2020 về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:89/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết - Bình Thuận
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 06/08/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;