Bản án 66/2020/HNGĐ-ST ngày 12/02/2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 66/2020/HNGĐ-ST NGÀY 12/02/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN, NUÔI CON CHUNG

Ngày 12 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 496/2019/TLST.HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2019, về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 528/2019/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 12 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2020/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang, giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Bà Trịnh Thị Ngọc Tr, sinh năm 1997. Có mặt.

Địa chỉ: + ấp KB, xã KH, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

+ ấp MC, xã MĐ, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

2.Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh D, sinh năm 1984. Vắng mặt.

Địa chỉ: ấp KB, xã KH, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN

 1.Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Trịnh Thị Ngọc Tr trình bày và có ý kiến như sau:

- Về hôn nhân: Giữa bà Trịnh Thị Ngọc Tr và ông Nguyễn Thanh D do quen biết nhau và tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2015, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 74 ngày 13/4/2015 tại Ủy ban nhân dân xã KH, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp nhau, thường xuyên cự cải, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, mặc dù cả hai đã nhiều lần tìm cách hàn gắn nhưng vẫn không khắc phục được và cả hai đã ly thân từ tháng 8 năm 2018 cho đến nay. Nhận thấy tình cảm của vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Trịnh Thị Ngọc Tr yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Thanh D.

- Về con chung: Có 01 con chung chưa thành niên tên Nguyễn Khánh Đ, sinh ngày 25/8/2015. Khi ly hôn bà Trinh yêu cầu được chăm sóc nuôi dưỡng con chung chưa thành niên Nguyễn Khánh Đ, sinh ngày 25/8/2015, không yêu cầu ông Nguyễn Thanh D phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên bà Trịnh Thị Ngọc Tr và ông Nguyễn Thanh D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*.Bị đơn ông Nguyễn Thanh D đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng ông Nguyễn Thanh D không có văn bản thể hiện ý kiến gửi cho Tòa án và không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

- Tại phiên tòa:

+ Bà Trịnh Thị Ngọc Tr trình bày: Giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán cho đến việc diễn biến tại phiên tòa của Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng được thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh trụng. Tòa án nhân dân huyện Châu Phú nhận định:

[2] Về tố tụng: Ông Nguyễn Thanh D đã được Tòa án triệu tập dự phiên tòa đúng theo quy định Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nhưng ông Nguyễn Thanh D vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Thanh D.

[3] Về hôn nhân: Giữa bà Trịnh Thị Ngọc Tr và ông Nguyễn Thanh D là hôn nhân hợp pháp bởi ông bà có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014. Xem xét yêu cầu xin ly hôn của bà Trịnh Thị Ngọc Tr, Hội đồng xét xử nhận thấy trong cuộc sống vợ chồng của ông bà đã không còn hạnh phúc, do một bên không còn tình cảm, đã có khoảng thời gian ly thân, cả hai có những mâu thuẩn mà không thể hàn gắn được do giữa ông bà không có sự cảm thông cho nhau. Trong quá trình Tòa án xem xét giải quyết vụ án, ông Nguyễn Thanh D không cung cấp ý kiến và không đến Tòa án tham dự phiên hòa giải, phiên tòa thể hiện chưa có sự quan tâm đối với yêu cầu ly hôn của bà Trịnh Thị Ngọc Tr. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông bà đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nếu duy trì cuộc hôn nhân này cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà Trịnh Thị Ngọc Tr là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 bà Trịnh Thị Ngọc Tr được ly hôn với ông Nguyễn Thanh D.

[4] Về nuôi con chung: Theo giấy khai sinh của Nguyễn Khánh Đ lời trình bày của bà Trịnh Thị Ngọc Tr thì bà và ông Nguyễn Thanh D có con chung chưa thành niên tên Nguyễn Khánh Đ, sinh ngày 25/8/2015, bà Trịnh Thị Ngọc Tr đang nuôi dưỡng, chăm sóc. Xét thấy, con chung được bà Trịnh Thị Ngọc Tr giáo dục, chăm sóc và được đi học, quyền lợi của con chung được đảm bảo, nên bà Trịnh Thị Ngọc Tr yêu cầu tiếp tục nuôi con chung là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, bà Trịnh Thị Ngọc Tr được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên tên Nguyễn Khánh Đ, sinh ngày 25/8/2015; Ông Nguyễn Thanh D có quyền và ngh a vụ thăm nom con. Bà Trịnh Thị Ngọc Tr và các thành viên trong gia đình của bà Trịnh Thị Ngọc Tr không được cản trở ông Nguyễn Thanh D thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Bà Trịnh Thị Ngọc Tr không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét về ngh a vụ cấp dưỡng nuôi con.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trịnh Thị Ngọc Tr trình bày về tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay do không có mặt của ông Nguyễn Thanh D để đối chất làm rõ các mối quan hệ này nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết. Nếu đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.

[6] Về án phí: Bà Trịnh Thị Ngọc Tr là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

 Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 143, khoản 4 Điều 147, Điều 179, Điều 186, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 9, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 81, khoản 3 Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1.Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trịnh Thị Ngọc Tr và ông Nguyễn Thanh D.

2.Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung chưa thành niên tên Nguyễn Khánh Đ, sinh ngày 25/8/2015 cho bà Trịnh Thị Ngọc Tr được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng.

Ông Nguyễn Thanh D có quyền và ngh a vụ thăm nom con. Bà Trịnh Thị Ngọc Tr và các thành viên trong gia đình của bà Trịnh Thị Ngọc Tr không được cản trở ông Nguyễn Thanh D thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

2.2. Bà Trịnh Thị Ngọc Tr không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3.Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trịnh Thị Ngọc Tr trình bày về tài sản chung và nợ chung là không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra để giải quyết. Nếu đương sự có tranh chấp sẽ giải quyết thành vụ án khác.

4.Về án phí: Bà Trịnh Thị Ngọc Tr phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005333 ngày 04 tháng 9 năm 2019 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Bà Trịnh Thị Ngọc Tr đã nộp đủ.

5.Về quyền kháng cáo: Bà Trịnh Thị Ngọc Tr có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Nguyễn Thanh D vắng mặt, thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

157
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án 66/2020/HNGĐ-ST ngày 12/02/2020 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

Số hiệu:66/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Phú - An Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 12/02/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;