Bản án 603/2020/HNGĐ-ST ngày 13/11/2020 về tranh chấp ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

BẢN ÁN 603/2020/HNGĐ-ST NGÀY 13/11/2020 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN

Ngày 13 tháng 11 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 303/2020/TLST-HNGĐ, ngày 09 tháng 6 năm 2020 về việc “Tranh chấp ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 297/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/10/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 234/2020/QĐST-HNGĐ ngày 26/10/2020 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1982, nơi cư trú: số 474, ấp BT2, xã HA, huyện CM, tỉnh An Giang. Có đơn xin vắng mặt

- Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1989, nơi cư trú: ấp LT, xã OLV, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn khởi kiện ngày 26 tháng 5 năm 2020 và trong quá trình giải quyết nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: chị và anh T tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Ô Long Vĩ, vợ chồng chung sống hạnh phúc một thời gian đến khoảng năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm thường xuyên cự cãi, vợ chồng ly thân khoảng 04 năm nay. Tình cảm vợ chồng không còn nên chị yêu cầu ly hôn với anh T. Về con chung: không có.

Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết.

- Bị đơn anh Trần Văn T đã được Tòa án tống đạt các thủ tục tố tụng đúng theo quy định pháp luật nhưng anh không gửi văn bản tự khai và không tham gia tố tụng nên không ghi nhận được ý kiến của anh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: chị L khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh T, địa chỉ cư trú của anh T là tại xã Ô Long Vĩ, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Châu Phú có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo quy định theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm b khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng anh vắng mặt không có lý do và chị L có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T và chị L theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1] Anh T và chị L tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 15/6/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Ô Long Vĩ, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang nên được pháp luật Việt Nam công nhận hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp. Nay cuộc sống hôn nhân phát sinh mâu thuẫn và tình cảm vợ chồng không còn nên chị L yêu cầu được ly hôn với anh T.

[2.2] Tòa án đã thực hiện, cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh T để anh thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình cũng như trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn tuy nhiên cho đến nay anh T vẫn vắng mặt không tham gia phiên họp, hòa giải, xét xử và không gửi văn bản trình bày ý kiến, xem như anh tự từ bỏ quyền lợi của bản thân.

[2.3] Anh chị là vợ chồng thì phải có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau cũng như chia sẻ, hỗ trợ nhau trong cuộc sống nhưng trên thực tế anh chị đã không còn sự thăm nom, chăm sóc lẫn nhau, hiện anh chị không còn chung sống cùng nhau hơn 04 năm mà vẫn không hàn gắn được tình cảm vợ chồng. Nay chị L yêu cầu ly hôn do mâu thuẫn trầm trọng trong cuộc sống hôn nhân và chị từ chối hòa giải cũng như xin vắng mặt khi xét xử cho thấy sự cương quyết trong việc yêu cầu ly hôn, phía anh T thì vắng mặt trong thời gian giải quyết vụ án, không có thể hiện thiện chí muốn hàn gắn đoàn tụ gia đình, không quan tâm đến yêu cầu ly hôn của chị L. Như vậy cho thấy cuộc sống chung của anh chị không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai do đó yêu cầu ly hôn của chị L với anh T là có cơ sở, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.4] Anh chị không có con chung nên không đặt ra vấn đề người nuôi con và cấp dưỡng.

[2.5] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.6] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: chị L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Anh T không phải chịu án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

 - Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015:

- Căn cứ Điều 9, Điều 53 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình 2014.

 - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị L ly hôn với anh Trần Văn T.

Giấy chứng nhận kết hôn số 64/2015 quyển số 01/2015 ngày 15 tháng 6 năm 2015 của Ủy ban nhân dân xã Ô Long Vĩ, huyện Châu Phú, tỉnh An Giang cấp cho chị Nguyễn Thị L và anh Trần Văn T không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.

- Về quan hệ con chung: Không có.

- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0003381 ngày 09/6/2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Châu Phú. Anh Trần Văn T không phải chịu án phí sơ thẩm.

Chị Nguyễn Thị L và anh Trần Văn T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

234
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án 603/2020/HNGĐ-ST ngày 13/11/2020 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:603/2020/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Châu Phú - An Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 13/11/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;