Bản án 47/2021/HNGĐ-ST ngày 29/04/2021 về tranh chấp ly hôn và nuôi con

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH BẠC LIÊU

BẢN ÁN 47/2021/HNGĐ-ST NGÀY 29/04/2021 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN VÀ NUÔI CON

Ngày 29 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 29/2021/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 01 năm 2021, về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp 44, xã LĐĐA, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

Chị Đ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, đơn đề ngày 25/3/2021.

Bị đơn: Anh Ong Thanh T, sinh năm 1988 (vắng mặt). Địa chỉ: Ấp MĐ, xã LĐĐA, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 25/9/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Ngọc Đ trình bày:

Về hôn nhân: Chị Đ và anh T tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LĐĐA, huyện H, tỉnh Bạc Liêu và được Ủy ban nhân dân xã LĐĐA cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 13/7/2009.

Trong thời đầu kết hôn thì cuộc sống hôn nhân hạnh phúc, từ năm 2019 thì hôn nhân phát sinh mâu thuẫn do anh T không quan tâm đến gia đình nên vợ chồng thường xuyên cải vã với nhau; cha mẹ hai bên có hàn gắn tình cảm cho anh chị nhưng không thành. Do không thể tiếp tục chung sống với nhau nên chị Đ và anh T đã ly thân từ tháng 02 năm 2019. Nay cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được và nay chị Đ cũng không còn tình cảm với anh T nên yêu cầu ly hôn.

Về con chung: Chị Đ và anh T có một con chung tên Ong Gia B, sinh ngày 12/10/2009. Cháu B hiện nay do anh T nuôi dưỡng, cháu B đang học lớp 6, anh T chăm sóc cháu B tốt và cháu phát triển bình thường như những đứa trẻ khác.

Tại đơn khởi kiện ngày 25 tháng 9 năm 2020, chị Đ yêu cầu trực tiếp nuôi con. Trong quá trình giải quyết vụ án, chị Đ thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện là đồng ý giao con cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đ xác định trong thời gian chung sống chị và anh T không có tài sản chung, không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn anh Ong Thanh T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng, cũng như triệu tập anh T tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tham gia phiên tòa xét xử sơ thẩm nhưng anh T vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H trình bày quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án:

Về thủ tục tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án tới thời điểm này thấy rằng Thẩm phán, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, 71, còn bị đơn không thực hiện đúng theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, 35, 39, 228, khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Ngọc Đ đối với anh Ong Thanh T. Về con chung: Giao cháu Ong Gia B, sinh ngày 12/10/2009 cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, chị Đ không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Đ phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Ngọc Đ yêu cầu ly hôn với anh Ong Thanh T, anh T cư trú tại ấp MĐ, xã LĐĐA, huyện H, tỉnh Bạc Liêu nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Chị Nguyễn Ngọc Đ có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, anh T đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Đ và anh T.

[3] Tại đơn khởi kiện ngày 25/9/2020, chị Đ yêu cầu trực tiếp nuôi con là cháu Ong Gia B, tại Đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện ngày 07/4/2021, chị Đ đồng ý giao cháu B cho anh T tiếp tục nuôi dưỡng, không yêu cầu nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy: Việc chị Đ thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện là hoàn toàn tự nguyện, không vượt yêu cầu khởi kiện ban đầu. Căn cứ khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Xét yêu cầu ly hôn của chị Đ đối với anh T, Hội đồng xét xử xét thấy: Chị Đ và anh T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã LĐĐA, huyện H, tỉnh Bạc Liêu và được Ủy ban nhân dân xã LĐĐA cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 13/7/2009 nên hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Trong thời gian chung sống chị Đ và anh T phát sinh nhiều mâu thuẫn, mặc dù đã được cha mẹ hai bên hòa giải nhưng không hàn gắn được tình cảm nên đã ly thân từ tháng 02 năm 2019. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập anh T tham gia phiên hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng anh T vắng mặt không có lý do, thể hiện anh T không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Tại Biên bản xác minh ngày 23 tháng 3 năm 2021, bà Phạm Kiều S là mẹ ruột của anh T cũng xác định trong thời gian chung sống anh T và chị Đ có phát sinh nhiều mâu thuẫn. Như vậy, có căn cứ xác định cuộc sống hôn nhân giữa chị Đ và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Đ đối với anh T.

[5] Về con chung: Chị Đ xác định chị và anh T có 01 con chung tên Ong Gia B, sinh ngày 12/10/2009, cháu B hiện do anh T nuôi dưỡng. Tại biên bản ghi nhận ý kiến ngày 25 tháng 3 năm 2021, cháu B có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với anh T; tại Biên bản xác minh ngày 23 tháng 3 năm 2021, bà Phạm Kiều S xác định cháu B hiện phát triển bình thường như những đưa trẻ khác. Xét thấy, cháu B có nguyện vọng được sống chung với anh T, anh T nuôi dưỡng cháu B phát triển bình thường nên cần giữ nguyên để dảm bảo cuộc sống ổn định cho cháu. Do đó, cần tiếp tục giao cháu B cho anh T nuôi dưỡng là phù hợp, chị Đ không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết. Chị Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đ xác định chị và anh T không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu giải quyết nên Hôi đồng xét xử không xem xét.

[7] Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên được chấp nhận. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị Đ phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228; điểm a, b khoản 1 Điều 238, khoản 1 Điều 244, Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Ngọc Đ đối với anh Ong Thanh T.

2. Về con chung: Giao cháu Ong Gia B, sinh ngày 12/10/2009 cho anh Ong Thanh T tiếp tục nuôi dưỡng.

Chị Nguyễn Ngọc Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng chị Nguyễn Ngọc Đ phải chịu. Chị Đ đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu số 0011532 ngày 25/01/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Bạc Liêu được chuyển thu án phí 300.000 đồng.

5. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Án xử sơ thẩm công khai, chị Nguyễn Ngọc Đ và anh Ong Thanh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

172
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án 47/2021/HNGĐ-ST ngày 29/04/2021 về tranh chấp ly hôn và nuôi con

Số hiệu:47/2021/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Hòa Bình - Bạc Liêu
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 29/04/2021
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;