Bản án 44/2019/HNGĐ-ST ngày 17/09/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG

BẢN ÁN 44/2019/HNGĐ-ST NGÀY 17/09/2019 VỀ TRANH CHẤP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

Trong ngày 17/9/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 210/2019/TLST-HNGĐ ngày 06/6/2019 về việc tranh chấp Hôn nhân gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 97/2019/QĐST-HNGĐ ngày 09/8/2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 96/2019/QĐST-HNGĐ ngày 27/8/2019 giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1997 (có mặt)

Nơi cư trú: thôn 2, xã A, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1994 (vắng mặt)

Nơi cư trú: thôn Dâu, xã N, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: Chị tự nguyện kết hôn với anh Nguyễn Thanh T vào ngày 28/5/2018, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống cùng nhau tại thôn Dâu, N, Lạng Giang, Bắc Giang. Trong thời gian đầu sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến cuối năm 2018 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn to tiếng, cãi chửi nhau do bất đồng quan điểm sống, anh T nghiện ma túy đá nên thường ham chơi, không chịu làm ăn, chăm lo cho vợ con, gia đình. Đến tháng 3/2019 vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng thường xuyên to tiếng, cãi chửi nhau không thể hòa hợp, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Chị đã về nhà bố mẹ đẻ tại thôn 2, A, Lạng Giang, Bắc Giang để ở từ tháng 3/2019 cho đến nay, vợ chồng sống ly thân không quan tâm chăm sóc cho nhau. Nay chị xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh T nữa, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

Về con chung: vợ chồng chị có 01 con chung là Nguyễn Hạnh Nhi, sinh ngày 22/11/2018, hiện đang chung sống cùng với chị. Ly hôn chị xin được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Nhi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Vợ chồng chị không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai và các lời khai tiếp theo, bị đơn là anh Nguyễn Thanh T trình bày: Anh xác nhận thời gian kết hôn, đăng ký kết hôn như chị N trình bày là đúng. Về quá trình chung sống, vợ chồng anh sống hòa thuận, hạnh phúc không có mâu thuẫn gì lớn. Đến tháng 3/2019 do anh nóng tính không kiềm chế được nên đã mắng chị N một vài câu. Sau đó chị N đã dận dỗi bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại thôn 2, A, Lạng Giang, Bắc Giang để ở cho đến nay. Anh đã lên nhà bố mẹ đẻ chị N xin lỗi. Nhưng vẫn để chị N ở đó, không đón chị N về vì con còn nhỏ. Anh xác định tình cảm vợ chồng vẫn còn. Anh vẫn rất yêu thương chị N, còn chị N thì không còn yêu thương, không còn tình cảm vợ chồng với anh. Tuy nhiên do hiện nay con chung còn nhỏ, cần có sự chăm sóc của cả bố và mẹ nên anh muốn vợ chồng về đoàn tụ để nuôi dậy con chung. Vì vậy chị N xin ly hôn thì anh không đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung là Nguyễn Hạnh Nhi, sinh ngày 22/11/2018, hiện đang chung sống cùng với chị N. Nếu ly hôn anh đồng ý để chị N tiếp tục nuôi dưỡng con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Vợ chồng anh không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại biên bản xác minh tình trạng hôn nhân nơi anh T, chị N cư trú thấy: Anh T, chị N kết hôn với nhau vào tháng 5/2018. Sau khi kết hôn anh T, chị N chung sống cùng nhau tại thôn Dâu, N, Lạng Giang, Bắc Giang. Quá trình chung sống cùng nhau thì anh T, chị N không lần nào nhờ chính quyền thôn can thiệp, hòa giải nên không biết việc vợ chồng mâu thuẫn như thế nào. Chị N hiện đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại thôn 2, A, Lạng Giang, Bắc Giang để sinh sống, không quay về ở cùng anh T nữa. Hiện nay, anh T có biểu hiện về việc nghiện ma túy, nằm trong diện theo dõi của chính quyền địa phương.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành mở phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng các đương sự không thống nhất thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa: Chị N vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Chị N yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T; đề nghị được nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Hạnh Nhi.

Anh T vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên tòa:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện nghiêm túc, đúng theo quy định của pháp luật.

- Nội dung giải quyết vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Thanh T.

Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị N nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Hạnh Nhi, sinh ngày 22/11/2018.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N, anh T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị N cùng các tài liệu nộp kèm theo đơn là hợp lệ, đảm bảo đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện Lạng Giang. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang đã thụ lý, giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự pháp luật đã quy định. Tại phiên tòa nguyên đơn là chị N có mặt, bị đơn là anh T vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy HĐXX tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh T theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Nguyễn Thanh T có đăng ký kết hôn vào ngày 28/5/2018 tại UBND xã N, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu, phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó quan hệ hôn nhân giữa chị N, anh T là hợp pháp.

Về tình trạng hôn nhân, Hội đồng xét xử xét thấy rằng: Lời khai của chị N, anh T phù hợp với biên bản xác minh tình trạng hôn nhân tại địa phương đều xác định vợ chồng chị N, anh T có sảy ra nhiều mâu thuẫn to tiếng, cãi nhau và đã có khoảng thời gian sống ly thân từ tháng 3/2019 cho đến nay không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau.

Đi với yêu cầu xin ly hôn của chị N và ý kiến của anh T không đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy rằng, trong thời gian sống chung vợ chồng không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ về nhân thân, không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ mọi việc, không giữ gìn, bảo vệ hạnh phúc gia đình. Anh T có biểu hiện về việc nghiện ma túy, thuộc diện theo dõi của chính quyền địa phương. Chị N, anh T đã mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến vợ chồng sống ly thân từ tháng 3/2019 đến nay, việc này trái với các quy định tại các điều 19, 21 luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Từ những phân tích trên, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 8 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về căn cứ cho ly hôn thì thấy rằng: Tình trạng của vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N đối với anh T.

[4] Về con chung: Vợ chồng chị N, anh T có 01 con chung là Nguyễn Hạnh Nhi, sinh ngày 22/11/2018. Chị N, anh T đều thống nhất để chị N nuôi dưỡng con chung. Vì vậy, cần giao cho chị N nuôi dưỡng cháu Nhi.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị N không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Anh T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này.

Anh T có quyền làm đơn đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.

[5] Về tài sản chung; nghĩa vụ chung về tài sản: Chị N, anh T đều không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[6] Về án phí: Chị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.

[7] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên, 

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Nguyễn Thanh T.

2. Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị N nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Hạnh Nhi, sinh ngày 22/11/2018.

Sau khi ly hôn anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở anh T thực hiện quyền này.

Anh T có quyền làm đơn đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0007220 ngày 06/6/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận chị N đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Án xử công khai sơ thẩm./.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

231
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án 44/2019/HNGĐ-ST ngày 17/09/2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình

Số hiệu:44/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Lạng Giang - Bắc Giang
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 17/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;