Bản án 41/2019/HSST ngày 14/08/2019 về tàng trữ trái phép chất ma túy

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH OAI, TP. HÀ NỘI

BẢN ÁN 41/2019/HSST NGÀY 14/08/2019 VỀ TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY

Ngày 14 tháng 8 năm 2019, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 45/2019/HSST ngày 18 tháng 7 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2019/HSST-QĐ ngày 31 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần thị T Nh, tên gọi khác: Không có; Sinh năm: 1995; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Tổ 24, cụm 4 phường N, quận T H, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12. Bố là: Trần C H và mẹ là: Lê Th H. Có chồng là: Trần B K và có 01 con, sinh năm 2018.Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/5/2019 đến ngày 05/6/2019 được thay đổi áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần thị T Nh sinh năm 1995, HKTT: Tổ 24, cụm 4, phường N, quận T H, thành phố Hà Nội, là đối tượng sử dụng ma túy. Qua Nhều lần đi uống cà phê ở phố Nh quen với một người phụ nữ tên là Ng ở Thanh Xuân, Hà Nội cũng là đối tượng sử dụng ma túy. Ngày 28/5/2019, khi gặp nhau ở quán cà phê, Ng rủ Nh đi chơi sinh nhật bạn và bảo Nh lấy thêm khoảng 40 - 50 viên ma túy “Kẹo” và một ít ma túy “Ke” mang về thị trấn Kim Bài để sử dụng trong bữa tiệc sinh nhật bạn của Ng. Đồng thời Ng hẹn Nh đúng 19 giờ ngày 29/5/2019 có mặt ở đầu thị trấn Kim Bài, Ng sẽ ra đón Nh; Nh đồng ý và dự định sẽ đi mua ma túy mang về thị trấn Kim Bài để sử dụng và coi đó là quà tặng sinh nhật cho bạn của Ng.

Khong 16 giờ ngày 29/5/2019, Nh đi từ nhà đến khu vực Ô Chợ Dừa, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội với mục đích tìm mua ma túy. Khi đang ngồi ở một quán nước bên đường thì có một người đàn ông không quen biết ra bắt chuyện với Nh, qua đó Nh biết người này có bán ma túy và Nh đặt vấn đề mua 50 viên ma túy “Kẹo” và một túi “Ke”. Người đàn ông này đồng ý và dẫn Nh đi đến một ngõ phố (Nh không nhớ tên đường phố là gì), bảo Nh đợi ở ngoài rồi đi vào phía trong, sau đó mang số ma túy trên ra bán cho Nh với giá 20.000.000 đồng, Nh đồng ý và đưa tiền cho người đàn ông. Nh cầm số ma túy mua được cất giấu trên người rồi bắt xe taxi BKS 30A-71433 do anh Đào Q H điều khiển đi đến thị trấn Kim Bài để tìm gặp Ng. Đến khoảng 18 giờ 05 phút ngày 29/5/2019, khi đi đến Km3 Quốc lộ 21B thuộc địa phận xã B, huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội; Trần thị T Nh bị Tổ tuần tra thuộc Đội Cảnh sát giao thông số 10 - Công an thành phố Hà Nội tiến hành kiểm tra, bắt quả tang Nh có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Cùng ngày, lực lượng cảnh sát giao thông đã bàn giao đối tượng Nh cùng tang vật cho Công an huyện Thanh Oai để giải quyết theo thẩm quyền.

Về tang vật thu giữ: 01 túi ni lông bên trong chứa tinh thể màu trắng; 01 túi ni lông bên trong chứa 30 viên nén màu vàng có hình mặt người; 01 túi ni lông bên trong chứa 20 viên nén màu xanh có hình bông hoa tám cánh.

Tại Kết luận giám định số 3502/KLGĐ-PC09 ngày 06/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội kết luận như sau:

“ 30 viên nén màu vàng hình mặt người đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 11,885 gam; 20 viên nén màu xanh hình bông hoa tám cánh đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 7,205 gam; Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi ni lông là ma túy loại Ketamine, khối lượng 1,426 gam”.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa:

Bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của bản thân, đồng thời trình bày: Đã nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, hiện tại đang nuôi con nhỏ nên đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm có điều kiện cùng gia đình làm lại cuộc sống.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố vì hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bản cáo trạng số /CT – VKS ngày 17/7/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Oai, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm n khoản 2 và khoản 5 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 7 đến 8 năm tù thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án được trừ thời gian tạm giữ. Phạt tiền bổ sung đối với bị cáo từ 7 đến 10 triệu đồng để sung công quỹ; Tịch thu tiêu hủy tang vật của vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1].Về tố tụng: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy trình Tố tụng hình sự.

[2].Về nội dung: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu điều tra đã được kiểm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ để xác định: Ngày 29/05/2019 Trần thị T Nh đã tìm mua được 19,09 gam ma túy loại MDMA và 1,426 gam ma túy loại Ketamine với mục đích để sử dụng cho bản thân và làm quà tặng sinh nhật bạn. Đến khoảng 18 giờ 05 phút cùng ngày, trên đường mang ma túy về địa điểm như đã hẹn với Ng, khi đi đến xã B, huyện Thanh Oai thì Trần thị T Nh bị Đội Cảnh sát giao thông số 10 - Công an thành phố Hà Nội tiến hành kiểm tra và bắt quả tang về hành vi trên.

Theo Điều 249 BLHS quy định về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" thì:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

.......

g) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine,MDMA, hoặc XLR – 11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam .........................

n) “ Có hai chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này”.

Như vậy hành vi của Trần thị T Nh đã phạm vào tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại Điểm n Khoản 2 Điều 249 BLHS 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

2.1. Về tính chất: Vụ án có tính nguy hiểm cho xã hội bởi hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm vào chế độ quản lý, sử dụng các chất gây nghiện của nhà nước, bản thân bị cáo biết rõ việc mua và tàng trữ các chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì mắc nghiện nên đã đi mua ma tuý để sử dụng, vì vậy phải có mức hình phạt phù hợp và cách ly ra khỏi xã hội để trừng trị, răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

2.2. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo đã khai báo thành khẩn, vì vậy cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách Nhệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

2.3. Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách Nhệm Hình sự.

2.4.Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo bị cách ly xã hội, gia đình khó khăn, không có thu nhập ổn định, hiện tại đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi vì vậy miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo là hợp lý.

2.5. Đối với người phụ nữ tên Ng và người đàn ông bán ma túy cho Trần thị T Nh, do Nh không biết họ tên, địa chỉ cụ thể; Cơ quan CSĐT không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.

Đi với Đào Q H là lái xe taxi không biết Trần thị T Nh tàng trữ trái phép ma túy trên người, Cơ quan CSĐT không đề cập xử lý là có căn cứ.

[3].Về tang vật: Chất ma túy hoàn lại sau giám định cần tịch thu tiêu hủy.

[4].Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 thì bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.

Từ nhận định trên

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần thị T Nh phạm tội: “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng: Điểm n Khoản 2 Điều 249; Điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt Trần Tuyết Nh 06 năm 06 tháng (Sáu năm sáu tháng) tù, được trừ 06 (Không sáu) ngày tạm giữ từ 30/5/2019 đến 05/6/2019, còn phải chấp hành 6 năm 05 tháng 24 ngày (Sáu năm năm tháng hai mươi tư ngày), thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

3.Về tang vật của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS năm 2015; Điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015. Tịch thu tiêu hủy chất ma túy hoàn lại sau giám định đã được niêm phong trong bì thư của phòng PC09 – Công an Hà Nội có chữ ký của Trần thị T Nh và giám định viên tại các mép dán.Vật chứng hiện đang do Chi cục thi hành án Dân sự huyện Thanh Oai quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra và chi cục thi hành án Dân sự huyện Thanh Oai lập ngày 18 tháng 7 năm 2019.

4. Án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Trần Tuyết Nh phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo, có mặt, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 14/8/2019.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

260
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án 41/2019/HSST ngày 14/08/2019 về tàng trữ trái phép chất ma túy

Số hiệu:41/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Thanh Oai - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 14/08/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;