Bản án 41/2019/HNGĐ-ST ngày 13/11/2019 về tranh chấp ly hôn

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, TP ĐÀ NẴNG

BẢN ÁN 41/2019/HNGĐ-ST NGÀY 13/11/2019 VỀ TRANH CHẤP LY HÔN 

Ngày 13 tháng 11 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 291/2019/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 7 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 04.10.2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 23/2019/QĐST-HN ngày 28.10.2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị C- Sinh năm 1975. Có mặt

- Bị đơn: Ông Nguyễn Đức Q- sinh năm 1971. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do

Cùng trú tại: số 116 Phan Văn Đạt, tổ 25 phường HKB, quận L, TP.Đà Nẵng.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà hôm nay nguyên đơn bà Trần Thị C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Tôi và ông Nguyễn Đức Q kết hôn năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tam Hòa, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng tôi chung sống tại địa chỉ số 116 Phan Văn Đạt, phường HKB, quận L,Tp. Đà Nẵng. Trong quá trình chung sống, vợ chồng tôi phát sinh nhiều mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống nên chúng tôi thường xuyên cãi vã, có nhiều lúc xúc phạm lẫn nhau, đã nhiều lần xảy ra xô xát làm ảnh hưởng đến con cái, nay tình cảm vợ chồng không còn nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Q.

-Về con chung: trong thời gian chung sống tôi và ông Q có 01 là Nguyễn Trần Long G, sinh ngày 30.7.2012 ly hôn bà C xin nuôi con chung, không yêu cầu ông Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: hông yêu cầu Tòa án giải quyết

- Về nợ chung: Không có

* Bị đơn là ông Nguyễn Đức Q không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu:

- Về thủ tục tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử cũng như việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn bà Trần Thị C kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án; bị đơn ông Nguyễn Đức Q không chấp hành nghiêm pháp luật, vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

-Về nội dung vụ án: Xét thấy về quan hệ hôn nhân mâu thuẫn của bà C và ông Q đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được mâu thuẫn vợ chồng đã được UBND phường Hòa Khánh Bắc xác nhận nên căn cứ vào Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà C.

Về con chung có 01 con chung Nguyễn Trần Long G, sinh ngày 30.7.2012. Ly hôn bà C xin nuôi con chung và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.

Hiện nay bà C là người đang trực tiếp nuôi dưỡng, con chung còn nhỏ nên đề nghị HĐXX giao con chung cho bà C nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật HN&GĐ.

Về cấp dưỡng nuôi con: bà C không yêu cầu nên không xem xét .

- Về tài sản chung: hông yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét

- Về nợ chung: Không có

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1].Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp ly hôn giữa bà Trần Thị C và ông Nguyễn Đức Q thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, TP Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt theo quy định tại Điều 208, 209, 210, 211 của BLTTDS. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn không xuất trình thêm chứng cứ mới.

Tại phiên toà lần thứ nhất ngày 23.9.2019 và cũng như phiên toà hôm nay Toà án đã triệu tập, niêm yết công khai Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên toà đối với bị đơn là ông Nguyễn Đức Q, nhưng ông Q vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt ông Q.

[2].Về nội dung tranh chấp: Xét yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị C và ông Nguyễn Đức Q thì thấy:

- Về quan hệ hôn nhân: bà Trần Thị C và ông Nguyễn Đức Q kết hôn vào năm 2011, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tam Hòa, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện.

Trong thời gian chung sống vợ chồng luôn phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, có nhiều lúc xúc phạm lẫn nhau, đã nhiều lần xảy ra xô xát làm ảnh hưởng đến con cái, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không giải quyết được vì vậy bà C yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Đức Q.

Từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa sơ thẩm hôm nay bị đơn là ông Nguyễn Đức Q mặc dù đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà C. Theo đơn xác minh tại UBND phường HKB, quận L, Tp Đà Nẵng thì cuộc sống vợ chồng giữa bà C và ông Q mâu thuẩn như thế nào không rõ, chỉ thấy ông Q thường xuyên vắng mặt ở nhà một mình bà Cương nuôi con nhỏ. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà C và ông Q đã không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà C yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật HNGĐ năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

- Về quan hệ con chung: bà C khai nhận bà và ông Q có 01 con chung là Nguyễn Trần Long G, sinh ngày 30.7.2012. Ly hôn bà C xin nuôi con chung và không yêu cầu ông Q cấp dưỡng nuôi con.

HĐXX thấy việc giao con chung cho người trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng sau ly hôn phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con. Ông Q thường xuyên vắng mặt tại nhà một mình bà C nuôi con nhỏ, bản thân bà C cũng có công việc và thu nhập ổn định, hơn nữa nguyện vong của cháu Long Giang xin ở với mẹ. Do đó, HĐXX xét thấy việc giao cháu con chung cho bà C nuôi dưỡng, chăm sóc là đảm bảo quyền và lợi ích về mọi mặt của cháu và hoàn toàn phù hợp với Điều 81,82,83 Luật HNGĐ.

Về yêu cầu cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa hôm nay bà C không yêu cầu ông Q cấp dưỡng tiền nuôi con nên HĐXX không xem xét.

Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng tiền nuôi con.

-Về tài sản chug: bà C không yêu cầu nên không xem xét

- Về nợ chung: bà C khai nhận không có Nếu sau này bà C và ông Q có tranh chấp về vấn đề tài sản chung, nợ chung thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.

- Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì án phí HNGĐ sơ thẩm là 300.000 đồng bà C phải nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: - Các Điều 51, 53, 54,56,58,81,82,83,84 Luật HNGĐ;

- Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQHH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của bà Trần Thị C đối với ông Nguyễn Đức Q.

Tuyên xử: bà Trần Thị C, sinh năm 1975, được ly hôn với ông Nguyễn Đức Q, sinh năm 1973.

Giấy chứng nhận kết hôn số 86, quyển số 01/2011 cấp ngày 14.11.2011 của UBND UBND xã Tam Hòa, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Tuyên: Giao con chung là Nguyễn Trần Long G, sinh ngày 30.7.2012 cho bà Trần Thị C trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc đến tuổi trưởng thành. Bà Trần Thị C không yêu cầu ông Nguyễn Đức Q cấp dưỡng nuôi con.

Các bên đương sự có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Khi vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền xin thay đổi người nuôi con hoặc yêu cầu mức cấp dưỡng nuôi con.

3.Về tài sản chung: bà Trần Thị C không yêu cầu nên không xem xét

4. Về nợ chung: bà Trần Thị C khai nhận không có

5. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000 đồng bà Trần Thị C phải nộp, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0006317 ngày 26.7.2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, Tp Đà Nẵng. Như vậy, bà C đã nộp đủ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay.

Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

213
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án 41/2019/HNGĐ-ST ngày 13/11/2019 về tranh chấp ly hôn

Số hiệu:41/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Liên Chiểu - Đà Nẵng
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 13/11/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;