Bản án 30/2019/HNGĐ-ST ngày 22/10/2019 về xin ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

BẢN ÁN 30/2019/HNGĐ-ST NGÀY 22/10/2019 VỀ XIN LY HÔN

Trong ngày 22 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 165/2019/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2019; về việc: “Xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2019/QĐST-HNGĐ ngày 16/9/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Ái L – sinh năm 1987;

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Trần Văn Q – sinh năm 1992;

Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên. Triệu tập hợp lệ lần thứ hai, vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ái L trình bày: Chị và anh Trần Văn Q tự nguyện tìm hiểu, tổ chức đám cưới theo phong tục và đăng ký kết hôn ngày 21/11/2013 tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên, chung sống hạnh phúc một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn: Do lối sống không phù hợp, không cùng quan điểm sống, giữa vợ chồng bất hòa, thường xuyên xảy ra kình cãi. Anh Q không chung thủy, quan hệ với người phụ nữ khác, chị L đã nhiều lần bỏ qua, cho anh Q nhiều cơ hội sửa chữa nhưng anh Q vẫn tính nào tật nấy nên chị L và anh Q thường xuyên cãi vã, gia đình không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Sự việc mâu thuẫn được gia đình hai bên nhiều lần khuyên giải, can thiệp nhưng mâu thuẫn vẫn xảy ra. Chị L và anh Q tự xa nhau sống ly thân từ cuối năm 2018 cho đến nay không ai quan tâm đến ai. Nay chị L nhận thấy không còn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh Q để ổn định cuộc sống.

Về con chung: không có.

Tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Trần Văn Q có mặt, sinh sống tại địa phương, đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Toà án nhân dân huyện Đông Hòa không lấy được lời khai của anh Q và không tiến hành hoà giải được.

Quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa cho rằng: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án cấp sơ thẩm đã tuân theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định, đảm bảo cho đương sự thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ. Các đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Chị L được ly hôn anh Q. Về con chung: Không có. Về tài sản chung không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Trần Văn Q đã được Tòa án triệu tập lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do; nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ái L vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, do đó Toà án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh Q tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã H, huyện Đ, tỉnh Phú Yên vào năm 2013. Đây là hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống, chị L và anh Q xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Q không chung thủy, quan hệ với người phụ nữ khác. Dù đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng mâu thuẫn của chị L anh Q vẫn xảy ra và kéo dài, đời sống hôn nhân không hạnh phúc. Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết đơn yêu cầu ly hôn của chị L, anh Q vẫn có mặt ở địa phương. Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, lấy lời khai, hòa giải nhưng anh Q không chấp hành, không đến Tòa án. Trong khi đó, chị L kiên quyết xin được ly hôn anh Q. Do đó, không thể duy trì quan hệ hôn nhân giữa anh Q và chị L mà cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị L về việc xin ly hôn anh Q, để các bên ổn định cuộc sống.

[3]. Về con chung: Không có.

[4]. Về tài sản chung: Nguyên đơn chị L không yêu cầu giải quyết nên Tòa không xét.

[5]. Về án phí: Chị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về xin ly hôn.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

2. Áp dụng Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ái L.

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Ái L được ly hôn anh Trần Văn Q.

Về con chung: Không có.

3. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí tòa án, chị Nguyễn Thị Ái L phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0013947 ngày 13/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Hòa.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

201
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án 30/2019/HNGĐ-ST ngày 22/10/2019 về xin ly hôn

Số hiệu:30/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thị xã Đông Hòa - Phú Yên
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 22/10/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;