Bản án 26/2019/HNGĐ-ST ngày 21/05/2019 về ly hôn

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG, TỈNH KHÁNH HÒA

BẢN ÁN 26/2019/HNGĐ-ST NGÀY 21/05/2019 VỀ LY HÔN

Ngày 21 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 1561/2019/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 18/2019/QĐ-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Trung H, sinh năm 1976.

Địa chỉ cư trú: Đường N, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1979.

Địa chỉ cư trú: Đường N, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn ông Phạm Trung H trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị Ngọc D kết hôn năm 2002 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố N. Trong quá trình chung sống, giữa ông và bà D cũng có phát sinh mâu thuẫn do không cùng quan điểm. Bà D vay mượn tiền nhiều người khiến ông và gia đình phải nhiều lần trả nợ. Nay nhận thấy tình nghĩa vợ chồng không còn và để ổn định cuộc sống, ông yêu cầu Tòa án cho ông được ly hôn với bà Nguyễn Thị Ngọc D.

Về con chung: Ông và bà D có ba con chung là Phạm Thị Hải T, sinh ngày 20/10/2002, Phạm Thị Hải Th, sinh ngày 05/12/2004 và Phạm Hải N, sinh ngày 08/02/2006. Sau khi ly hôn ông có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cả ba con chung là Phạm Thị Hải T, Phạm Thị Hải Th và Phạm Hải N, không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Ông Phạm Trung H không yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D vắng mặt trong suốt quá trình tòa án giải quyết vụ án.

Phát biểu tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên nhận định: Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang thụ lý giải quyết vụ kiện là đúng thẩm quyền, có căn cứ, đúng pháp luật. Việc niêm yết, tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự đúng quy định. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và người tham gia tố tụng có mặt đã hiện đúng quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt những đã được niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng, nên việc Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định. Các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử thẩm tra, xem xét công khai tại phiên tòa. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, quyết định về án phí, quyền kháng cáo theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Ông Phạm Trung H khởi kiện bà Nguyễn Thị Ngọc D về việc “Ly hôn” là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015.

- Bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án. Tại phiên tòa ngày 21/5/2019 bà D tiếp tục vắng mặt lần thứ hai, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vụ án theo quy định.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Trung H và bà Nguyễn Thị Ngọc D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân phường T, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 75 ngày 24/6/2002. Trong quá trình chung sống, giữa ông và bà D phát sinh nhiều mâu thuẫn do không cùng quan điểm, lối sống. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh, tống đạt, niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án về việc giải quyết vụ án ly hôn theo đơn khởi kiện của ông H. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Ngọc D đã không đến Tòa án để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Như vậy, có thể nhận thấy bà D cũng không tha thiết muốn níu kéo mối quan hệ hôn nhân với ông H. Đời sống chung là trầm trọng, tình nghĩa vợ chồng giữa ông H và bà D không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, để ổn định cuộc sống của các bên, cũng như việc chăm sóc và nuôi dưỡng các con được đảm bảo, Hội đồng xét xử nhận thấy các yêu cầu khởi kiện ly hôn của ông H là có căn cứ, phù hơp theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về con chung: Trong quá trình chung sống, ông H và bà D có ba con chung là Phạm Thị Hải T, sinh ngày 20/10/2002, Phạm Thị Hải Th, sinh ngày 05/12/2004 và Phạm Hải N, sinh ngày 08/02/2006. Về nguyện vọng được nuôi con của ông H, Hội đồng xét xử xét thấy: Các con chung hiện tại đang sống ổn định cùng ông Phạm Trung H. Trong quá trình giải quyết vụ án, các cháu T, Th và N đều có nguyện vọng được sống với ông H. Do vậy, để ổn định cuộc sống cho các con, nên cần giao cả ba con chung cho ông H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng sau khi ly là phù hợp theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Ông Phạm Trung H không yêu cầu bà Nguyễn Thị Ngọc D nên Hội đồng xét xử không xét.

[4] Về tài sản chung: Ông Phạm Trung H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Bà Phạm Thị Ngọc D vắng mặt nên tách ra để giải quyết bằng một vụ án khác, nếu sau này bà D có yêu cầu.

[5] Về án phí: Ông Phạm Trung H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 28, khoản 4 Điều 147; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Trung H.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Trung H được ly hôn bà Nguyễn Thị Ngọc D.

1.2. Về con chung: Giao 03 con chung là cháu Phạm Thị Hải T, sinh ngày 20/10/2002, Phạm Thị Hải Th, sinh ngày 05/12/2004 và Phạm Hải N, sinh ngày 08/02/2006 cho ông Phạm Trung H trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng sau khi ly hôn.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở và các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.

1.3. Về tài sản chung: Ông Phạm Trung H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét. Bà Nguyễn Thị Ngọc D vắng mặt nên tách ra để giải quyết bằng một vụ án khác, nếu sau này bà D có yêu cầu.

2. Về án phí: Ông Phạm Trung H phải nộp 300.000 đồng, án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0010402 ngày 18/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố N. Ông H đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

252
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án 26/2019/HNGĐ-ST ngày 21/05/2019 về ly hôn

Số hiệu:26/2019/HNGĐ-ST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang - Khánh Hoà
Lĩnh vực:Hôn Nhân Gia Đình
Ngày ban hành: 21/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;