Bản án 24/2020/HSST ngày 26/02/2020 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

BẢN ÁN 24/2020/HSST NGÀY 26/02/2020 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 26 tháng 02 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân, quận B, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 13/2020/HSST ngày 21 tháng 01 năm 2020, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hà Văn S, Tên gọi khác: không Giới tính: Nam, Sinh ngày: 17/10/1986 tại: Vĩnh Phúc Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn D, V, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi ở: Không có nơi ở cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh  Tôn  giáo:

Không; Trình độ văn hóa: 7/12; Nghề nghiệp: không; Con ông Hà Văn T, Sinh năm: 1962; con bà Phan Thị V, sinh năm: 1965; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2; Vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1993 (có 01 con sinh năm 2013) Tiền án: 02 tiền án - Tại bản án số 155 ngày 16/12/2015, TAND TP V, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Hà Văn S 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. S chấp hành án xong ra trại ngày 12/10/2016. (Chưa được xóa án tích)

- Tại bản án số 143 ngày 27/9/2017, TAND TP. V, tỉnh Phú Thọ xử phạt Hà Văn S 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. S chấp hành án xong ra trại ngày 17/9/2018. (Chưa được xóa án tích) Lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”. Nhân thân:

- Tại bản án số 09 ngày 18/01/2006, TAND huyện T, TP Hà Nội xử phạt Hà Văn S 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. S chấp hành án xong ra trại ngày 21/12/2006. S đã nộp án phí đầy đủ; (đã được xóa án tích)

- Tại bản án số 64 ngày 18/11/2008, TAND huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt Hà Văn S 01 năm 03 tháng tù về tội “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”. S chấp hành án xong ra trại ngày 03/12/2009. S đã nộp án phí đầy đủ; (đã được xóa án tích)

- Ngày 01/01/2008, công an huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt vi phạm hành chính đối với Hà Văn S về hành vi “Đánh bạc” (Đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính)

- Ngày 18/6/2016, công an huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt vi phạm hành chính đối với Hà Văn S về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác” (Đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính)

- Bị cáo bị bắt quả tang ngày 02/12/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội

- Bị hại: Chị Trần Thị C, sinh năm 1955; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Biệt thự số 5, khu đô thị mới N, phường C, quận B, thành phố Hà Nội; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hà Văn S là đối tượng lang thang, không có nghề nghiệp. Khoảng 9 giờ ngày 02/12/2019, sau khi ngủ dậy tại căn nhà hoang cạnh biệt thự số 5 KĐT mới N, C, quận B, TP.Hà Nội, do trời lạnh nên S trèo qua tường vào căn biệt thự số 5 – nhà của chị Trần Thị C để trộm cắp quần áo. Khi vào bên trong nhà, S đi lên tầng 2 mở tủ quần áo của chị C trộm cắp 01 áo khoác dạ màu đen và 01 quần vải dài màu đen rồi mặc lên người. Sau đó, S đi xuống tầng 1 thấy trên bàn ăn trong phòng bếp có 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, 01 chùm chìa khóa nhà và 01 chiếc mũ nữ màu vàng nhạt nên S nảy sinh ý định trộm cắp các tài sản này. S đội mũ lên đầu, cầm điện thoại đút vào túi quần bên phải rồi cầm chùm chìa khóa đi ra cổng để mở cửa. Khi S đang mở cửa thì bị chị C phát hiện, chị C hỏi thì S không giải thích được lý do có mặt trong nhà chị. Tại chỗ, S trả chị C chùm chìa khóa rồi bỏ đi. Chị C vào nhà thì phát hiện bị mất 01 điện thoại Iphone X màu trắng lắp sim 09121258** cùng chiếc mũ của mình. Chị C đuổi theo S khoảng 100m thì giữ được S đòi lại mũ và yêu cầu S trả chị điện thoại. S lấy từ trong túi quần ra chiếc điện thoại Iphone X màu trắng trả cho chị C. Sau đó, chị C hô hoán bảo vệ khu đô thị bắt giữ S rồi báo công an phường Cổ Nhuế 1 đến đưa S về trụ sở để làm việc Vật chứng thu giữ của Hà Văn S:

- 01 áo khoác dạ màu đen đã qua sử dụng; 01 quần vải dài màu đen đã qua sử dụng:

 Vật chứng thu giữ của Trần Thị C:

- 01 điện thoại Iphone X màu trắng, bên ngoài có vỏ ốp cao su trắng; 01 mũ nữ tròn có vành rộng màu vàng nhạt:

Ngày 02/12/2019, cơ quan CSĐT – Công an quận B có Yêu cầu định giá tài sản số 214 gửi đến Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B, yêu cầu định giá đối với các tài sản Hà Văn S trộm cắp tại nhà chị Trần Thị C.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 207/KLĐGTS ngày 17/12/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B, kết luận:

- 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone X màu trắng, 64Gb, số imei: 354869093196863 (đã qua sử dụng) có giá trị là 11.000.000 đồng:

- 01 vỏ ốp nhựa màu trắng (đã qua sử dụng) có giá trị là 30.000 đồng:

- 01 áo khoác dạ nhãn hiệu Deanwest classic (đã qua sử dụng), có giá trị là 170.000 đồng:

- 01 quần vải màu đen nhãn hiệu Boss cony men’s classic (đã qua sử dụng) có giá trị là 90.000 đồng:

- 01 mũ nữ tròn không nhãn hiệu, có vành rộng màu vàng nhãn (đã qua sử dụng) có giá trị là 30.000 đồng.

Tổng trị giá tài sản Hà Văn S trộm cắp là: 11.320.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, Hà Văn S khai nhận hành vi trộm cắp tài sản như trên. Lời khai bị can phù hợp với lời khai bị hại về không gian, thời gian địa điểm phạm tội và vật chứng thu giữ.

Đối với các tài sản Hà Văn S trộm cắp gồm: 01 áo khoác dạ màu đen; 01 quần vải dài màu đen; 01 điện thoại Iphone X màu trắng, bên ngoài có vỏ ốp cao su trắng; 01 mũ nữ tròn có vành rộng vàng nhạt (các tài sản đều qua sử dụng). Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của chị Trần Thị C. Ngày 29/12/2019 cơ quan CSĐT – Công an quận B ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả các tài sản trên cho chị C. Chị C đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 20/01/2020 Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố Hà Nội đã truy tố Hà Văn S về tội Trộm cắp tài sản, theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại điện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, đề nghị xử phạt bị cáo Hà Văn S mức án từ 30 đến 36 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận B, TP. Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận B, TP. Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, rõ ràng, phù hợp với quy định của pháp luật; bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những căn cứ xác định tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, vật chứng được thu giữ, kết quả định giá, lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 02/12/2019, tại căn biệt thự số 5, khu đô thị mới Nghĩa Đô, phường Cổ Nhuế 1, quận B, thành phố Hà Nội, Hà Văn S có hành vi trộm cắp: 01 điện thoại di động Iphone X màu trắng trị giá 11.000.000 đồng; 01 vỏ ốp nhựa màu trắng trị giá 30.000 đồng, 01 áo khoác dạ màu đen trị giá 170.000 đồng, 01 quần vải dài màu đen trị giá 90.000 đồng và 01 mũ nữ màu vàng nhạt trị giá 30.000 đồng. Tổng trị giá tài sản Hà Văn S trộm cắp của chị Trần Thị C là 11.320.000 đồng. Tài sản thu hồi đã trao trả cho chủ sở hữu.

Hành vi chiếm đoạt tài sản có giá trị 11.320.000 đồng như nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” thuộc trường hợp tình tình tiết định khung tăng nặng điểm g Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự ở khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố Hà Nội truy tố bị cáo hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ và còn gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo có nhân thân xấu, nhiều lần phạm tội, hai lần phạm tội gần nhất bị cáo chưa được Tòa án xóa án tích lại tiếp tục phạm tội nên cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra mới có tác dụng và phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Do bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì khác về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

 Vì các lẽ trên,  

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Hà Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản.

2. Áp dụng: Điểm g khoản 2 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Hà Văn S 28 (Hai mươi tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù từ ngày 02/12/2019.

Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Áp dụng Điều 135; Khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Khoản 1 Điều 23, Điểm d Khoản 1 Điều 12; Khoản 1 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Hà Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

241
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án 24/2020/HSST ngày 26/02/2020 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:24/2020/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Quận Bắc Từ Liêm - Hà Nội
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 26/02/2020
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký



  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;