Bản án 216/2019/HSST ngày 22/05/2019 về tội trộm cắp tài sản

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN – TỈNH TN

BẢN ÁN 216/2019/HSST NGÀY 22/05/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Ngày 22 tháng 5 năm 2019, tại Tòa án nhân dân thành phố TN xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 218/2019/HSST ngày 12/4/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 230/2019/QĐXXST - HS ngày 04/5/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ngô Văn Đ; Sinh ngày: 31/5/1998;Tên goi khac: Không; Giơi tinh: Nam; Nơi cư trú: Tổ 11, phường TL, thành phố TN , tỉnh TN ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giao: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Trình độ học vấn: 7/12; Con ông: Ngô Văn Đ, sinh năm 1970; Con bà: Nguyễn Thị D, sinh năm 1974 đều trú tại: Tổ 11, phường TL, thành phố TN ; Gia đình có 2 chị em, bị cáo là con hai; chưa vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân:

Ngày 18/3/2019 bị Cơ quan CSĐT Công an huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội khởi tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” hiện vụ án đang được điều tra.

Hiện bị cáo đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh TN (bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/01/2019 đến nay).

Bị hại: Ông Nguyễn Quang P, sinh năm 1964 Địa chỉ: xóm Hộ Sơn, xã NT, huyện PY, TN .

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Trần Đình T, sinh năm 1994 (Vắng mặt)

Đa chỉ: Tổ 14, phường TL, thành phố TN .

Người chứng kiến: Anh Ngô Bá Tr, sinh năm 1986 (Vắng mặt) Địa chỉ: Tổ 11, phường TL, thành phố TN .

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 01/01/2019 Ngô Văn Đ cùng Ngô Quang Minh sinh năm 2008, Ngô Quang Huy sinh năm 2006 là anh và em họ của Đạt đi bộ ra nghĩa trang Ba Tổng thuộc tổ 11, phường TL, thành phố TN chơi. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày ông Nguyễn Quang P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu sơn đỏ đen BKS: 20L-9096 cùng anh Ngô Bá Trình và một số người thân trong gia đình đến nghĩa trang Ba Tổng để làm lễ tạ mộ. Khi đến nơi ông P dựng xe mô tô ở khu vực lưng chừng dốc của nghĩa trang, cách vị trí ngồi làm lễ khoảng 30m và quên không rút chìa khóa điện. Trong khi chơi cùng Huy và Minh, Đạt quan sát thấy chìa khóa xe mô tô của ông P vẫn cắm ở ổ điện, không có người trông coi nên Đạt nảy sinh ý định lấy chìa khóa mở cốp xe xem có tài sản gì thì trộm cắp, khi Đạt mở cốp xe thấy có 01 bộ áo mưa, 01 bộ đồ sửa xe gồm 01 tuốc nơ vít, 01 cờ lê, 01 kìm bằng kim loại. Đạt vứt bộ áo mưa xuống đất, lấy bộ đồ sửa xe rồi cùng Huy, Minh về nhà cất giấu vào bồn cây cảnh ở sân nhà Đạt.

Đến 16 giờ 30 phút cùng ngày Đạt nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe mô tô của ông P mang bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, nên Đạt một mình quay lại nghĩa trang Ba Tổng đi đến vị trí ông P dựng chiếc xe mô tô, thấy không có ai trông nom, Đạt dắt chiếc xe xuống chân dốc rồi mổ máy điều khiển xe đi đến khu vực Trường tiểu học TL 1 thì dừng lại tháo 02 gương chiếu hậu vứt xuống lề đường. Sau đó Đạt điều khiển xe đến khu vực cổng phụ Trường Đại học Nông Lâm TN thuộc tổ 1, phường Tân Thịnh, thành phố TN cầm cố cho Trần Đình T số tiền 2.000.000đ, rồi đi đánh điện tử và tiêu xài cá nhân hết.

Tại kết luận định giá tài sản số 06/HĐ ĐGTS ngày 07/01/2019 Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố TN kết luận trị giá của các tài sản gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Hon da Wave BKS: 20L3 – 9096 là 4.000.000đ, 01 cờ lê là 10.000đ, 01 tua vít cán bằng nhựa màu đen là 10.000đ; 01 kìm bằng kim loại là 10.000đ. Tổng giá trị tài sản là 4.030.000đ.

Đi với Trần Đình T, sau khi cho Đạt cầm cố đến ngày 11/01/2019 T bán chiếc xe cho người nam giới tên Huy với giá 2.000.000đ, quá trình điều tra T chuộc lại xe và giao nộp cho cơ quan điều tra.

Ti kết luận giám định số 432/KLPC09 ngày 25/02/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu Honda màu sơn đỏ đen BKS 20L3-9096, xe đã qua sử dụng, hành số đóng trên khung xe và hành số đóng trên thân máy xe đã bị tẩy xóa. Sử dụng hóa chất chuyên dùng tìm lại được số máy nguyên thủy là HC09E – 6352346 không tìm được số khung nguyên thủy.

Quá trình điều tra Ngô Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên. Lời khai của Đạt phù hợp với các tài liệu CQĐT thu thập như: Đơn trình báo, biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, bản ảnh thực nghiệm, lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu giữ được có trong hồ sơ.

Vật chứng của vụ án: 01 tua vít cán bằng nhựa màu đen, 01 kìm bằng kim loại, 01 cơ lê”14,17” cơ quan điều tra đã trả cho ông P.

Về phần dân sự: Ông Nguyễn Quang P yêu cầu Đạt bồi thường giá trị chiếc xe là 8.000.000đ nhưng Đạt chưa bồi thường.

Tại Cơ quan điều tra, Ngô Văn Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai nhận của Đạt hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan,vật chứng thu giữ, kết luận định giá tài sản.

Tại bản cáo trạng số 221/CT- VKSTPTN , ngày 11/4/2019 Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN , tỉnh TN đã truy tố Ngô Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.

Kết thúc phần thẩm vấn, tại phần tranh luận, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố TN giữ quyền công tố đã công bố bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bị cáo Ngô Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Vt chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:

- Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 20L3 – 9096 hiện số khung không còn nguyên thủy như ban đầu nên không còn có căn cứ để trả cho bị hại.

Phần dân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho ông P số tiền 4.000.000đ T không yêu cầu gì đối với bị cáo.

Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không bị oan, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào những chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về T hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN , của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Ngô Văn Đ tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng đã thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khong 16 giờ 30 phút ngày 01/01/2019 tại nghĩa trang Ba Tổng thuộc tổ 11, phường TL, thành phố TN , lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu Ngô Văn Đ đã có hành vi trộm cắp 01 bồ đồ sửa xe mô tô và 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Hon da Wave BKS: 20L3 – 9096 của ông Nguyễn Quang P có tổng giá trị 4.030.000 đồng, 01 bộ đồ sửa xe mô tô Đạt mang về nhà cất giấu, còn chiếc xe Đạt mang đến cầm cố cho Trần Đình T lấy 2.000.000đ đi đánh điện tử và tiêu xài cá nhân. Hành vi nêu trên của Đạt đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản.

[3]. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Ti phạm và hình phạt của Ngô Văn Đ được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Ni dung điều luật quy định như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng … thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

[4]. Về T chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TN HS bị cáo được hưởng:

- Xét T chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo xâm pham đến quyền sở hữu tài sản của công dân được nhà nước bảo vệ. Vì vậy, việc đưa ra xét xử đối với bị cáo là cần thiết nhằm răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

- Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TN HS đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy:

Bị cáo không có tiền án, tiền sự, nhân thân xấu, hiện bị cáo đang là bị can trong vụ án khác vì vậy cần có mức hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục và cải tạo bị cáo. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng năng trách nhiệm nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn khai báo và phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng vì vậy được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS.

[5]. Về hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy, để đảm bảo T nghiêm minh của luật pháp cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với T chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức án đối với bị cáo là nghiêm khắc.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội lẽ ra cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước, nhưng tại phiên tòa bị cáo xác định không có nghề nghiệp, không có tài sản gì riêng, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7]. Về vật chứng vụ án: áp dụng điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS - 01 bộ sửa xe gồm: 01 tua vít cán bằng nhựa màu đen, 01 kìm bằng kim loại, 01 cơ lê ”14,17” đã trả cho ông P.

- Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 20L3 – 9096 hiện số khung không còn nguyên thủy như ban đầu nên giữ lại để làm rõ và sử lý sau.

[ 8.] Về phần dân sự: Ông P vắng mặt tại phiên tòa có đơn yêu cầu Đạt bồi thường 8.000.000đ, tại phiên tòa bị cáo khai không có nghề nghiệp và không có tài sản riêng nên bị cáo xin được bồi thường theo giá trị của HĐĐG, HĐXX thấy là phù hợp nên chấp nhận. Anh T không yêu cầu Đạt bồi thường gì.

[8]. Các vấn đề khác:

Trong vụ án Trần Đình T là người đã cho Đạt cầm cố chiếc xe mô tô. Tuy nhiên khi cho Đạt cầm cố T không biết đó là tài sản do phạm tội mà có, nên cơ quan điều tra không xử lý đối với T Chiếc xe mô tô BKS 20L3-9096 do Trần Đình T giao nộp số khung bị tẩy xóa không xác định được số nguyên thủy nên tách ra làm rõ sử lý sau.

[9]. Bị cáo phải nộp án phí HSST và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173; Điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điểm g khoản 1; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tun xử: Bị cáo Ngô Văn Đ phạm tội: “Trộm cắp tài sản"

Xử phạt: Bị cáo Ngô Văn Đ: 12 (Mười hai) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù T từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 05/1/2019; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án;

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS năm 2015:

- 01 bộ sửa xe gồm: 01 tua vít cán bằng nhựa màu đen, 01 kìm bằng kim loại, 01 cơ lê ”14,17” đã trả cho ông P.

- Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave BKS: 20L3 – 9096 hiện số khung không còn nguyên thủy như ban đầu nên giữ lại để làm rõ và sử lý sau.

Phần dân sự:

Buộc Ngô Văn Đ bồi thường cho ông Nguyễn Quang P số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng)

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí toà án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí DSST.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

213
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án 216/2019/HSST ngày 22/05/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:216/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Thành phố Thái Nguyên - Thái Nguyên
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 22/05/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;