Bản án 20/2019/HSST ngày 24/09/2019 về tội trộm cắp tài sản

A ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH TT HUẾ

BẢN ÁN 20/2019/HSST NGÀY 24/09/2019 VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN

Trong ngày 24/9/2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phong Điền (49 đường Phò Trạch, thị trấn Phong Điền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế) xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 17/2019/HSST ngày 23/7/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Trung H, (Tên gọi khác: B); Giới tính: Nam; Sinh ngày: 03/12/1989 tại Quảng Trị; Nơi ĐKNKTT: Khu phố A, phường B, thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị; Chỗ ở hiện nay: thôn TT, xã H T, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Pha chế đồ uống; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn S, sinh năm: 1954 và bà: Hồ Thị Q, sinh năm: 1956; Gia đình có 03 anh em ruột, bị can là con thứ 02; Hoàn cảnh gia đình: Vợ: Lê Thị Thủy T, sinh năm: 1989; Con: Nguyễn Lê Khả N, sinh năm: 2019; Tiền án: 01, tiền sự: Không. Về nhân thân: Ngày 06/11/2007, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xử phạt 12 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại Điều 202 BLHS năm 1999. Ngày 12/4/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 138 BLHS năm 1999. Chấp hành xong hình phạt vào ngày 26/11/2017. Bị cáo bị áp dụng biện pháp bắt tạm giam từ ngày 08/5/2019 cho đến nay.

Người bị hại:

Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1981, trú tại: Thôn T A 2, xã P A, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế (có mặt).

Người có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Công V, sinh năm: 1983 trú tại: Thôn T A 2, xã P A, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế (có mặt).

Người làm chứng:

1. Anh Trần Văn H , sinh năm 1984(có mặt);

2. Anh Trần Công D , sinh năm 1988(có mặt);

3. Anh Trần Công Y, sinh năm: 1994(có mặt);

4. Anh Lê Hữu Đ, sinh năm: 1982(vắng mặt);

cùng trú tại: Thôn T A 2, xã P A, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.

5. Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1985; trú tại: Tổ dân phố L B 2, phường H V, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế (vắng mặt).

6.Anh Nguyễn Thái T, sinh năm 1997; trú tại: Thôn Đ A, xã P A, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế (có mặt).

Điều tra viên : Ông Trần Đức H, thuộc cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Phong Điền (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Nguyễn Trung H bị Viện kiểm sát Nhân dân huyện Phong Điền, truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Vào Khoảng 13 giờ ngày 07/5/2019, Nguyễn Trung H điều khiển xe máy hiệu Sirius gắn biển số 75H5-69.. đi từ xã Hải Trường, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị theo đường Quốc Lộ 1A vào địa phận huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế để tìm kiếm nhà dân có sơ hở nhằm trộm cắp tài sản. Khi đến khu vực Bệnh viện Trung ương Huế cơ sở 2, H chạy xe vào đường xóm thuộc địa phận thôn T A 2, xã P A, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế đến cuối đường là lối vào nhà anh Trần Công V. Nguyễn Trung H thấy nhà khóa cửa không có ai nên H chạy xe vào trong sân, dựng xe cạnh cổng nhà, đầu xe quay ra hướng bên ngoài rồi vào trong dùng cái kéo bằng kim loại màu trắng sáng để cạy cửa nhà vào bên trong nhà lục tìm tài sản để lấy trộm.

Khi vào nhà, H phát hiện cửa phòng ngủ không khóa nên đi vào phòng, H thấy có một túi xách màu đà nên mở túi xách lục tìm tài sản, lấy trộm một tờ tiền mệnh giá 02 Đô la Mỹ (02 USD) có số sê ri G09772921A cùng một sợi dây lắc đeo tay bằng vàng của chị Nguyễn Thị H giấu vào trong người.

Đến 13 giờ 50 phút cùng ngày, trong lúc H vẫn đang lục tìm tài sản thì anh Trần Công V đi làm về thấy cửa phía sau bên hành lang nhà mình bị mở, anh V đứng bên ngoài nhìn vào trong phòng ngủ thì phát hiện thấy H đang lục tìm tài sản nên đã chạy xe máy gắn biển số 75H5-69.. của H dựng ở sân nhà ra bên ngoài đường, đồng thời hô hoán người dân xung quanh đến hỗ trợ bắt giữ.

Sau khi bắt giữ được Nguyễn Trung H, anh V đã thông báo và giao cho lực lượng công an xã P A đến tiếp nhận đưa về trụ sở UBND xã P A làm việc. Quá trình làm việc tại UBND xã P A, cơ quan chức năng đã thu giữ trên người H nhiều tài sản, đồ vật, trong đó có tờ 02 USD có sê ri G09772921A. Ngoài ra, quá trình làm việc Nguyễn Trung H nhiều lần đề nghị được đi vệ sinh, khi đi vệ sinh H đã lợi sơ hở để tẩu tán tang vật là sợi dây lắc vàng xuống bồn cầu nhà vệ sinh nhưng đã bị lực lượng chức năng truy tìm phát hiện.

Ngày 08/5/2019, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Thừa Thiên Huế - Chi nhánh Phong Điền đã xác định tờ 02 USD có số sê ri G09772921A sản xuất năm 2009 là tiền thật, có giá trị lưu hành trong lưu thông.

Tại bản kết luận ngày 04/6/2019 của Sở khoa học và công nghệ tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận một lắc đeo tay kim loại vàng có đính nhiều hạt màu trắng nhỏ, khối lượng 2,22 chỉ, chất lượng 45%.

Tại bản kết luận số 10 ngày 17/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện Phong Điền kết luận:

- 01 lắc đeo tay nữ kim loại vàng, có đặc điểm dạng dây gồm 18 hạt, dạng nữa hình tròn rỗng bên trong kết nối với nhau, có tổng chiều dài 16,5cm, có khối lượng 2,22 chỉ, chất lượng 45% có giá trị 6.500.000 đồng. (Sáu triệu năm trăm ngàn đồng chẵn) 

- 01 tờ tiền mệnh giá 02 đô la Mỹ có số sê ri G09772921A sản xuất năm 2009 có giá 46.600 đồng.

Tại bản kết luận giám định số 234 ngày 17/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận: Vết giày thu được trong phòng ngủ nhà anh Trần Công V là do chiếc giày trái của đôi giày thu giữ từ đối tượng Nguyễn Trung H tạo ra.

Tại bản kết luận giám định số 251 ngày 29/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận: Dấu vết xước để lại tại bề mặt chốt khóa cửa ghi thu tại cửa phía sau bên hành lang nhà anh Trần Công V là do chiếc kéo ghi thu từ đối tượng Nguyễn Trung H để trong người khi bị người dân bắt giữ gửi đến làm mẫu so sánh tạo ra.

Quá trình điều tra thu giữ gồm: 01 (một) tờ tiền mệnh giá 02 Đô la Mỹ có số sê ri: G09772921A;

- 01 (một) sợi dây lắc đeo tay nữ bằng kim loại màu vàng đã bị đứt, có đặc điểm dạng dây gồm 18 hạt, dạng nửa hình tròn rỗng, bên trong kết nối với nhau có tổng chiều dài 16,5 cm; 01 (một) cái kéo kim loại màu trắng bị gãy hai đầu mũi; 01 (một) chiếc xe máy hiệu Sirius, có số khung: RLCS5C6H0EY058572, Số máy: 5C6H058572, xe có gắn biển số 75H5- 69.. và 01 biển số xe 74K5-20..; 01 (một)tuốc nơ vít đầu vặn một cạnh dài 0,145 mét, có cán bằng gỗ được sơn màu đỏ đường kính 0,02 mét; 01 (một) tuốc nơ vít đầu vặn có thể hoán đổi một cạnh và hai cạnh (4 chấu) dài 0,13 mét, cán bằng nhựa màu đen có đường kính 0,017 mét; 01(một) tuốc nơ vít bị gãy đầu vặn mới dài 0,285 mét, cán bằng nhựa màu đen có đường kính 0,035 mét; 01 (một) đầu vặn 1 cạnh có vết gãy mới dài 0,07 mét; 01(một) cái kéo dạng kẹp dài 0,26 mét, cán rộng 0,08 mét; 01 (một) Lục giác nhãn hiệu CHESSCO 5mm dạng hình chữ L cạnh dài 0,15 mét, cạnh ngắn 0,03 mét; 01(một) đôi găng tay màu hồng phấn nhạt kích thước mỗi chiếc dài 0,24 mét, đường kính ống tay 0,095 mét; 01 (một) chốt cửa làm bằng kim loại, thu giữ tại cánh cửa hông nhà Trần Công Văn; 01 (một) Giấy đăng ký mô tô xe máy mang tên Nguyễn Thị Khánh L; 01 (một)máy điện thoại hiệu Sam sung S7 màu vàng bị nứt vỡ mặt sau có số Imei: 359780620186301; 01 (một)máy điện thoại hiệu Mobistar màu trắng đen có model: B310 có số Imei: 352310020182272; 01(một) cái ví da màu đen trong ví có 230.500 đồng và một tờ tiền mệnh giá 02 Đô la Mỹ (02 USD) có số sê ri: K11821102A.

* Về xử lý vật chứng:

Sau khi giám định, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phong Điền đã xử lý trả lại 01 chốt cửa làm bằng kim loại cho anh Trần Công V.

Ngày 17/7/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền đã tiến hành xử lý vật chứng trả lại 01 sợi dây lắc đeo tay nữ bằng kim loại màu vàng đã bị đứt, có đặc điểm dạng dây gồm 18 hạt, dạng nửa hình tròn rỗng, bên trong kết nối với nhau có tổng chiều dài 16,5 cm cho chị Nguyễn Thị H.

Đi với những vật chứng còn lại, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền đã ra Quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền để phục vụ công tác xét xử.

Tại cáo trạng số: 17/CT-VKS ngày 22/7/2019 của Viện kiểm sát Nhân dân huyện Phong Điền truy tố bị cáo Nguyễn Trung H về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo. Đồng thời nêu ra ý kiến tranh luận, trong quá trình điều tra và truy tố, Nguyễn Trung H thường xuyên quanh co, chối tội và không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo H đang có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm”. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội bị phát hiện, H đã tẩu tán các công cụ gây án và tang vật để chối cãi hành vi phạm tội của mình là có hành động xảo quyệt nhằm trốn tránh tội phạm. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo qui định tại điểm h, p khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi , bổ sung năm 2017. Bị cáo không được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào. Đồng thời đề nghị xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới đủ tác dụng răn đe giáo dục bị cáo.

Về vật chứng áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đề nghị:

+ Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phong Điền 01 chiếc xe máy hiệu Sirius, có số khung: RLCS5C6H0EY058572, Số máy: 5C6H058572, để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ nguồn gốc của phương tiện dùng để phạm tội để xem xét xử lý theo quy định.

+ Tịch thu để tiêu hủy: 01 biển số 75H5- 6906 và 01 biển số xe 74K5-2078; 01 Giấy đăng ký mô tô xe máy mang tên Nguyễn Thị Khánh L; 01 cái kéo kim loại màu trắng bị gãy hai đầu mũi; 01 tuốc nơ vít đầu vặn một cạnh dài 0,145 mét, có cán bằng gỗ được sơn màu đỏ đường kính 0,02 mét; 01 tuốc nơ vít đầu vặn có thể hoán đổi một cạnh và hai cạnh (4 chấu) dài 0,13 mét, cán bằng nhựa màu đen có đường kính 0,017 mét; 01 tuốc nơ vít bị gãy đầu vặn mới dài 0,285 mét, cán bằng nhựa màu đen có đường kính 0,035 mét; 01 đầu vặn 1 cạnh có vết gãy mới dài 0,07 mét; 01 cái kéo dạng kẹp dài 0,26 mét, cán rộng 0,08 mét; 01 Lục giác nhãn hiệu CHESSCO 5mm dạng hình chữ L cạnh dài 0,15 mét, cạnh ngắn 0,03 mét; 01 đôi găng tay màu hồng phấn nhạt kích thước mỗi chiếc dài 0,24 mét, đường kính ống tay 0,095 mét; 01 đôi giày vãi màu đen hiệu BQ và 01 cái ví da màu đen.

+ Trả lại cho bị cáo một số tài sản cá nhân gồm: 01 máy điện thoại hiệu Sam sung S7 màu vàng bị nứt vỡ mặt sau có số Imei: 359780620186301; 01 máy điện thoại hiệu Mobistar màu trắng đen có model: B310 có số Imei: 352310020182272; 230.500 đồng và một tờ tiền mệnh giá 02 Đô la Mỹ (02 USD) có số sê ri: K11821102A.

Ý kiến người bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu gì thêm về trách nhiệm dân sự.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu hồ sơ trong vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Mặc dù quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Trung H không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Nhưng qua lời khai của người bị hại, những người làm chứng và các chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra đã chứng minh, khoảng 13 giờ 50 phút, ngày 07/5/2019, tại nhà của anh Trần Công V ở thôn T A 2, xã P A, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, Nguyễn Trung H đã lén lút dùng cây kéo bằng kim loại màu trắng đã bị gãy mũi để cạy phá cửa phía sau bên hành lang vào nhà anh V; mặc dù H khai nhận cửa hành lang này khi H vào không được khóa lại, nhưng tại bản kết luận giám định số: 251 ngày 29/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thừa Thiên Huế kết luận: Dấu vết xước để lại tại bề mặt chốt khóa cửa thu tại cửa phía sau bên hành lang nhà anh Trần Công V là do chiếc kéo thu từ trong người Nguyễn Trung H khi bị người dân bắt giữ tạo ra, điều này chứng minh H đã đột nhập trái phép vào nhà của anh V. Nguyễn Trung H cũng quanh co không thừa nhận vào trong phòng ngũ nhà anh Trần Công V mà chỉ đứng bên ngoài nhìn vào, tuy nhiên qua dấu vết hiện trường đã xác định đôi giày thu được trên người của H đã để lại dấu vết trong phòng ngũ của nhà anh V. Quá trình khám xét trên người Nguyễn Trung H tại UBND xã P A, huyện Phong Điền đã thu giữ nhiều vật chứng, trong đó thu giữ 01 tờ tiền có mệnh giá 02 Đô la Mỹ có số sê ri G09772921A trong túi quần jean bên phải H đang mặc, H khai nhận là của H đã có trước đó. Nhưng qua kiểm tra chiếc điện thoại Iphone của chị H, tại mục bộ sưu tập xác định: ngày 05/02/2019 có 04 bức ảnh chụp tờ tiền 02 USD có số sê ri G09772921A được lưu lần lượt từ 22 giờ 32 phút đến 22 giờ 35 phút cùng ngày là phù hợp với tờ tiền mà thu giữ trong túi quần của bị cáo H. Ngoài ra, chị Nguyễn Thị H trình bày: tờ tiền này do một người bạn tặng lại cho chị thì người bạn đó có tặng thêm cho chị Nguyễn Thị S ở phường H V, thị xã Hương Trà 01 tờ tiền có mệnh giá 02 USD có số sê ri G09772920A (hai tờ tiền có số seri liên tiếp nhau). Lời khai của chị H phù hợp với lời khai của chị S về tờ tiền này về thời gian, địa điểm, người cho tặng, qua đó chứng minh chị H là người đã sở hữu tờ 02 USD trước đó. Đối với 01 dây lắc tay bằng vàng thu giữ tại bồn cầu nhà vệ sinh UBND xã P A, huyện Phong Điền. Qua lời khai của những người làm chứng tại phiên tòa, trong quá trình bị bắt giữ tại nhà anh V, Nguyễn Trung H đã nhiều lần mượn cớ được đi vệ sinh, nhưng những người bắt giữ không chấp nhận. Khi làm việc tại UBND xã P A, bị cáo Nguyễn Trung H cũng đã nhiều lần đề nghị được đi vệ sinh và để đảm bảo sức khỏe của bị cáo, lực lượng chức năng đã cho bị cáo vào phòng đại tiện thuộc nhà vệ sinh UBND xã P A để đi vệ sinh, bị cáo đã lợi dụng lúc một mình đi vệ sinh để tẩu tán sợi lắc tay bằng vàng của chị Nguyễn Thị H xuống bồn cầu vệ sinh. Ngay sau khi bị cáo bước ra từ phòng vệ sinh, lực lượng chức năng đã mời các thành phần chứng kiến để kiểm tra nhà vệ sinh và thu giữ 01 sợi dây chuyền bằng vàng và đã lập biên bản thu giữ đúng theo luật định. Đồng thời, chị H đã cung cấp đầy đủ các biên lai mua sợi lắc vàng, cung cấp hình ảnh chứng minh trước khi bị mất sợi dây chuyền thì chị H đã sở hữu tài sản này. Do đó, chị H khẳng định trước khi bị mất chị đã bỏ 01 tờ tiền 02 đô la có số sê ri G09772921A và sợi dây lắc bằng vàng cất giữ trong túi xách để trong phòng ngủ của gia đình mình. Xét về mặt không gian, thời gian và địa điểm, từ khi bị cáo H bị bắt giữ tại nhà anh V và được lực lượng chức năng đưa về trụ sở UBND xã P A cho đến khi Cơ quan điều tra phát hiện sợi lắc thì lúc này chị H đang còn công tác tại Trường cấp 2 P H, thuộc xã P H, huyện Phong Điền; những người tham gia bắt giữ bị cáo cũng như anh V lúc này cũng không có mặt tại trụ sở UBND xã P A. Vì vậy, việc thu giữ được tờ đô la có số seri G09772921A mệnh giá 2 USD nằm trong túi quần của bị cáo và chiếc lắc tay bằng vàng trong bồn cầu nhà vệ sinh tại UBND xã P A là có tính liên kết với nhau về thời gian, về đặc điểm tài sản bị mất trộm; phù hợp với các chứng cứ vật chất khác, nên khẳng định bị cáo đã có hành vi lén lút vào phòng ngũ nhà anh V lục túi xách của chị Nguyễn Thị H lấy tờ đô la có số seri G09772921A mệnh giá 2 USD (có giá trị 46.600 đồng) và 01 dây lắc tay bằng vàng có giá trị là 6.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà H chiếm đoạt là 6.546.600 đồng. (Sáu triệu năm trăm bốn mươi sáu ngàn sáu trăm đồng).

Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền truy tố Nguyễn Trung H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2] Xét tính chất mức độ phạm tội của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức quyền sỡ hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ. Trước đó, ngày 06/11/2007, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xử phạt 12 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngày 12/4/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 138 BLHS năm 1999. Chấp hành xong hình phạt vào ngày 26/11/2017, nhưng không lấy đó làm bài học để rèn luyện tu dưỡng bản thân. Bị cáo vì lòng tham muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để tiêu xài cá nhân. Ngoài ra, trong quá trình điều tra và truy tố, Nguyễn Trung H thường xuyên quanh co, chối tội và không thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Bị cáo H đang có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm”. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội bị phát hiện, H đã tẩu tán các công cụ gây án và tang vật để chối cãi hành vi phạm tội của mình là có hành động xảo quyệt nhằm trốn tránh tội phạm. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo qui định tại điểm h, p khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa người bị hại xin xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt. Xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phong Điền, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa bị cáo H đều thừa nhận việc thu giữ một số vật chứng như cây kéo bị cáo mang theo; tờ 02 đô la Mỹ có số sê ri G09772921A và đôi giày bị cáo đang sử dụng là trên người bị cáo và trình tự thu giữ đã tiến hành lập biên bản niêm phong theo qui định pháp luật. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa không ai đề nghị xem xét, nên Hội đồng xét xử không xét.

[5] Về vật chứng:

Về 01 (một) tờ tiền mệnh giá 02 Đô la Mỹ có số sê ri: G09772921A là tài sản của chị H nên trả lại cho người bị hại.

Đi với 01(một) chiếc xe máy hiệu Sirius, có số khung: RLCS5C6H0EY058572, Số máy: 5C6H058572, do chưa xác định chủ sở hữu và nguồn gốc tài sản nên chuyển trả lại cơ quan điều tra công an huyện Phong Điền để tiếp tục điều tra truy xét.

Số vật chứng còn lại là : 01 ( một) biển số 75H5- 69.. và 01 biển số xe 74K5- 20..; 01 (một) Giấy đăng ký mô tô xe máy mang tên Nguyễn Thị Khánh L; 01 (một) cái kéo kim loại màu trắng bị gãy hai đầu mũi; 01 (một) tuốc nơ vít đầu vặn một cạnh dài 0,145 mét, có cán bằng gỗ được sơn màu đỏ đường kính 0,02 mét; 01 (một) tuốc nơ vít đầu vặn có thể hoán đổi một cạnh và hai cạnh (4 chấu) dài 0,13 mét, cán bằng nhựa màu đen có đường kính 0,017 mét; 01(một) tuốc nơ vít bị gãy đầu vặn mới dài 0,285 mét, cán bằng nhựa màu đen có đường kính 0,035 mét; 01 (một) đầu vặn 1 cạnh có vết gãy mới dài 0,07 mét; 01(một) cái kéo dạng kẹp dài 0,26 mét, cán rộng 0,08 mét; 01 (một) Lục giác nhãn hiệu CHESSCO 5mm dạng hình chữ L cạnh dài 0,15 mét, cạnh ngắn 0,03 mét; 01(một) đôi găng tay màu hồng phấn nhạt kích thước mỗi chiếc dài 0,24 mét, đường kính ống tay 0,095 mét; 01(một) cái ví da màu đen và 01(một) đôi giày vãi màu đen hiệu BQ đây là phương tiện dụng cụ bị cáo mang theo sử dụng hoặc dùng làm phương tiện phạm tội, nghỉ không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Ngoài ra còn thu giữ của bị cáo 01 (một)máy điện thoại hiệu Sam sung S7 màu vàng bị nứt vỡ mặt sau có số Imei: 359780620186301; 01 (một) máy điện thoại hiệu Mobistar màu trắng đen có model: B310 có số Imei: 352310020182272; số tiền 230.500 đồng và một tờ tiền mệnh giá 02 Đô la Mỹ (02 USD) có số sê ri: K11821102A, đây là tài sản của bị cáo nên hoàn trả cho bị cáo. Tuy nhiên đối với số tiền 230.500 đồng và một tờ tiền mệnh giá 02 Đô la Mỹ (02 USD) có số sê ri: K11821102A nhằm để đảm bảo thi hành án nên tiếp tục tạm giữ số tiền này.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trung H (Tên gọi khác: B) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1, Điều 173; khoản 2, Điều 51 và điểm h, p khoản 1, Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Nguyễn Trung H (Tên gọi khác: B) 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Về tội “Trộm cắp tài sản”. Tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 08/5/2019.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tuyên trả cho chị Nguyễn Thị H 01 (một) tờ tiền mệnh giá 02 Đô la Mỹ có số sê ri: G09772921A. Tang vật được chuyển theo hồ sơ vụ án.

Chuyển giao lại cho Cơ quan Cảnh sát Điều tra công an huyện Phong Điền để tiếp tục điều tra truy xét về nguồn gốc của chiếc xe máy hiệu Sirius, có số khung: RLCS5C6H0EY058572, Số máy: 5C6H058572.

Tuyên tịch thu tiêu hủy một số vật chứng sau: 01 (một) biển số 75H5- 69.. và 01 biển số xe 74K5-20..; 01 (một) Giấy đăng ký mô tô xe máy mang tên Nguyễn Thị Khánh L; 01 (một) cái kéo kim loại màu trắng bị gãy hai đầu mũi; 01 (một)tuốc nơ vít đầu vặn một cạnh dài 0,145 mét, có cán bằng gỗ được sơn màu đỏ đường kính 0,02 mét; 01 (một) tuốc nơ vít đầu vặn có thể hoán đổi một cạnh và hai cạnh (4 chấu) dài 0,13 mét, cán bằng nhựa màu đen có đường kính 0,017 mét; 01(một) tuốc nơ vít bị gãy đầu vặn mới dài 0,285 mét, cán bằng nhựa màu đen có đường kính 0,035 mét; 01 (một) đầu vặn 1 cạnh có vết gãy mới dài 0,07 mét; 01(một) cái kéo dạng kẹp dài 0,26 mét, cán rộng 0,08 mét; 01 (một) Lục giác nhãn hiệu CHESSCO 5mm dạng hình chữ L cạnh dài 0,15 mét, cạnh ngắn 0,03 mét; 01(một) đôi găng tay màu hồng phấn nhạt kích thước mỗi chiếc dài 0,24 mét, đường kính ống tay 0,095 mét; 01(một) cái ví da màu đen và 01(một) đôi giày vãi màu đen hiệu BQ.

Tuyên trả lại cho Nguyễn Trung H 01 (một) máy điện thoại hiệu Sam sung S7 màu vàng bị nứt vỡ mặt sau có số Imei: 359780620186301; 01 (một) máy điện thoại hiệu Mobistar màu trắng đen có model: B310 có số Imei: 352310020182272;

Tuyên tạm giữ số tiền 230.500 đồng và một tờ tiền mệnh giá 02 Đô la Mỹ (02 USD) có số sê ri: K11821102A, để đảm bảo thi hành án.

Tất cả tang vật trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án huyện Phong Điền theo mô tả biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/8/2019.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Trung H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai báo cho bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. 

Nguồn: https://congbobanan.toaan.gov.vn

233
Bản án/Nghị quyết được xét lại
Văn bản được dẫn chiếu
Văn bản được căn cứ
Bản án/Nghị quyết đang xem

Bản án 20/2019/HSST ngày 24/09/2019 về tội trộm cắp tài sản

Số hiệu:20/2019/HSST
Cấp xét xử:Sơ thẩm
Cơ quan ban hành: Tòa án nhân dân Huyện Phong Điền - Thừa Thiên Huế
Lĩnh vực:Hình sự
Ngày ban hành: 24/09/2019
Là nguồn của án lệ
Bản án/Nghị quyết Sơ thẩm
Án lệ được căn cứ
Bản án/Nghị quyết Liên quan đến cùng nội dung
Bản án/Nghị quyết Phúc thẩm
Vui lòng Đăng nhập để có thể tải về
Đăng nhập
Đăng ký


  • Địa chỉ: 17 Nguyễn Gia Thiều, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (028) 7302 2286 (6 lines)
    E-mail: info@lawnet.vn
Chủ quản: Công ty THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
Chịu trách nhiệm chính: Ông Bùi Tường Vũ - Số điện thoại liên hệ: (028) 7302 2286
P.702A , Centre Point, 106 Nguyễn Văn Trỗi, P.8, Q. Phú Nhuận, TP. HCM;